Tóm tắt: Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có điều kiện vươn lên, tăng dần về chất và lượng để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt. Trong quá trình đó, thị trường tất yếu sẽ xuất hiện những doanh nghiệp “thắng cuộc”, chiếm vị trí thống lĩnh vượt lên trên các đối thủ cạnh tranh. Bản thân vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp không xấu, thậm chí nó còn mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, đặc biệt là tạo nên lợi thế cạnh tranh quốc gia. Nhưng khi doanh nghiệp lạm dụng sức mạnh từ vị trí thống lĩnh để gây hạn chế cạnh tranh thì Nhà nước phải kiểm soát bằng cơ chế kiểm soát riêng nhằm bảo vệ sự công bằng trong hoạt động cạnh tranh. Trên thực tế đã xảy ra không ít vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, nhưng số vụ việc được áp dụng Luật Cạnh tranh để xử lý lại rất ít. Việc xây dựng các tiêu chí xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng trong xử lý vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế mới đặc trưng bởi yếu tố công nghệ và đổi mới nhanh chóng.
Từ khóa: các tiêu chí, vị trí thống lĩnh thị trường, nền kinh tế mới.
Abstract: In a market economy, businesses have the conditions to rise up, gradually increasing in quality and quantity to survive and develop in a harsh competitive environment. In that process, the market will inevitably have "winning" businesses, occupying a dominant position over their competitors. The dominant market position of a business is not inherently bad, it even brings many benefits to the economy, especially creating a national competitive advantage. However, when a business abuses its dominant position to restrict competition, the State must control it with its own control mechanism to protect fairness in competition. In fact, there have been many cases of abuse of dominant market position, but the number of cases that have been handled by the Competition Law is very small. Establishing criteria to determine the dominant market position of an enterprise is extremely important in handling cases of abuse of dominant market position, especially in the context of the new economy characterized by rapid technology and innovation.
Keywords: criteria, market dominance, new economy.
Sự phát triển nhanh chóng và đột phá của công nghệ số đã và đang tạo nên một "nền kinh tế mới" tại Việt Nam, đặc trưng bởi các mô hình kinh doanh nền tảng (Platform business), dịch vụ phi vật thể, và sự luân chuyển dữ liệu khổng lồ. Trong bối cảnh đó, pháp luật cạnh tranh trở thành một công cụ thiết yếu để duy trì sự công bằng và thúc đẩy đổi mới. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định truyền thống, đặc biệt là các tiêu chí xác định vị trí thống lĩnh thị trường (VTTLTT), đang đối diện với những thách thức chưa từng có. Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 (LCT 2018) vẫn chủ yếu dựa vào tiêu chí định lượng là thị phần, cùng với một số yếu tố định tính khác, để xác định ngưỡng sức mạnh thị trường. Thế nhưng, các thị trường mới như thương mại điện tử, mạng xã hội, hay các ứng dụng gọi xe, lại mang bản chất hoàn toàn khác biệt: chúng thường có hiệu ứng mạng lưới mạnh mẽ, chi phí chuyển đổi cao, và tập trung vào lợi thế dữ liệu độc quyền - những yếu tố có thể tạo ra VTTLTT mà không cần đạt ngưỡng thị phần truyền thống. Thực tế này đặt ra một câu hỏi lớn: liệu các tiêu chí hiện hành có còn đủ sắc bén và phù hợp để nhận diện chính xác các doanh nghiệp có khả năng hành động độc lập, gây tổn hại đến cạnh tranh trong nền kinh tế số hay không? Việc không xác định được VTTLTT kịp thời và chính xác sẽ cản trở việc thực thi pháp luật cạnh tranh, tạo điều kiện cho các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, từ đó kìm hãm đổi mới và gây bất lợi cho người tiêu dùng.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích, đánh giá những bất cập của các tiêu chí xác định VTTLTT theo LCT 2018 tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết sẽ đề xuất bổ sung và điều chỉnh các tiêu chí, ưu tiên các yếu tố đặc trưng của nền kinh tế mới như quyền kiểm soát dữ liệu, hiệu ứng mạng lưới, và vai trò nền tảng thiết yếu v.v. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một bộ tiêu chí toàn diện, linh hoạt hơn, giúp cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam có thể giải quyết vụ việc lạm dụng VTTLTT một cách hiệu quả, công bằng, bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế mới.
2.1. Một số khái niệm
2.1.1. Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường
Trên thế giới, tùy vào từng thời kỳ cũng như quan điểm của các quốc gia mà VTTLTT được định nghĩa theo mục tiêu của chính sách cạnh tranh. Từ góc độ kinh tế, cũng có nhiều cách tiếp cận dựa trên những tiêu chí khác nhau. Hoa Kỳ là một đất nước có năng lực cạnh tranh hàng đầu thế giới[1] đã sớm nhận thấy sức ảnh hưởng to lớn của doanh nghiệp có VTTLTT mà họ gọi chung là “độc quyền”. Tại Hoa Kỳ, sức mạnh của doanh nghiệp có VTTLTT cũng được hiểu gắn liền với việc tăng hoặc giảm phúc lợi xã hội nhưng doanh nghiệp đó phải có khả năng hành xử độc lập với các đối thủ cạnh tranh. Như vậy, trong lịch sử lập pháp của Hoa kỳ cũng như thực tiễn xét xử không trực tiếp đề cập đến khái niệm VTTLTT nhưng có hàm ý thống lĩnh thị trường nằm trong nội hàm của khái niệm độc quyền. Hay nói cách khác, đó là doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể, có khả năng chi phối các quan hệ trên thị trường. Ở Pháp lại sử dụng nhiều tiêu chí để xác định vị trí thống lĩnh, đó là thị phần của doanh nghiệp, sự mất cân đối giữa các lực lượng thị trường như quy mô của doanh nghiệp, doanh nghiệp có trực thuộc hay không trực thuộc vào một tập đoàn, khả năng tài chính, sự yếu kém của đối thủ cạnh tranh.., diễn biến về sự thay đổi thị phần của doanh nghiệp, việc nắm giữ một số lợi thế về công nghệ, hiệu quả quản lý, ưu thế nhãn hiệu và các yếu tố bên ngoài có thể cho phép doanh nghiệp tránh được sự cạnh tranh thực chất. Cũng chịu ảnh hưởng của học thuyết cạnh tranh ở Hoa Kỳ, Canada coi “quyền lực thị trường là khả năng giữ giá cao hơn mức giá cạnh tranh mà vẫn có lợi nhuận trong một khoảng thời gian đáng kể, thông thường là một năm”. Sự khác nhau nói trên đã đưa đến những khác biệt về căn cứ pháp lý được sử dụng để xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp trong pháp luật của các nước [2]. Theo Từ điển Pháp - Việt [3], vị trí thống lĩnh (position dominante) là vị trí thể hiện sức mạnh kinh tế của một hay một nhóm doanh nghiệp có khả năng hành xử độc lập với các đối thủ cạnh tranh trên một thị trường nhất định. Tại Điều 4 Chỉ thị 2002/21/EC về khuôn khổ chung trong ngành điện tử viễn thông quy định sức mạnh thị trường đáng kể (SMP) như sau: “Doanh nghiệp được coi là nắm giữ sức mạnh thị trường đáng kể nếu như bản thân doanh nghiệp đó hoặc nhóm doanh nghiệp đó, nắm giữ và hưởng lợi từ vị trí tương đương với vị trí thống lĩnh trên thị trường, từ đó sức mạnh thị trường có thể giúp doanh nghiệp hành xử độc lập đáng kể với đối thủ cạnh tranh, khách hàng và người tiêu dùng cuối cùng”.
Pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam ra đời khá muộn so với một số nước trên thế giới. Mặc dù có hệ thống pháp luật theo dòng họ Civil Law nhưng pháp luật cạnh tranh của Việt Nam chịu sự ảnh hưởng khá lớn từ học thuyết và pháp luật thuộc dòng họ Comon Law như Hoa Kỳ, EU… Nhận thức được vị trí và sức mạnh của doanh nghiệp có VTTLTT, Việt Nam có sự kết hợp cả hai quan điểm Chicago và Harvard khi xây dựng các khái niệm trong lĩnh vực luật cạnh tranh, trong đó VTTLTT được định nghĩa như sau: “là vị trí của doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp nắm giữ sức mạnh thị trường đáng kể có khả năng gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường liên quan và hành xử một cách độc lập với đối thủ cạnh tranh, khách hàng và người tiêu dùng”[4].
Như vậy, do có cách tiếp cận cũng như quan điểm khác nhau nên nội hàm của khái niệm VTTLTT ở mỗi nước có thể không tương đồng hoàn toàn. Tuy nhiên, đa phần các nước đều có chung quan điểm VTTLTT là doanh nghiệp (nhóm doanh nghiệp) có quyền lực thị trường. Quyền lực này cho phép chủ thể đó có thể hành xử độc lập với các chủ thể bao gồm đối thủ cạnh tranh, khách hàng dẫn đến khả năng kiểm soát được cả quy luật thị trường. Việc xác định nội hàm khái niệm VTTLTT có vai trò rất quan trọng trong việc xác định VTTLTT để làm căn cứ nhận diện doanh nghiệp, bởi nếu hành vi phản cạnh tranh không phải do doanh nghiệp có VTTLTT thực hiện thì có thể sẽ không vi phạm pháp luật cạnh tranh hoặc cấu thành vi phạm một hành vi phản cạnh tranh khác. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc xác định VTTLTT của doanh nghiệp không hề đơn giản. Việc xây dựng tiêu chí để xác định được vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp phải phù hợp với điều kiện chính trị - kinh tế, văn hóa xã hội của quốc gia đó. Hay nói cách khác, tiêu chí xác định đó phải có tính khả thi cao trong thực tế.
2.1.2. Khái niệm nền kinh tế mới
Trên thế giới, nói đến khái niệm “nền kinh tế mới” (the new economy), người ta thường nghĩ đến hiện tượng đặc biệt của nền kinh tế Hoa Kỳ vào nửa sau của thập niên 1990. Sự chuyển đổi của nền kinh tế bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba (hay còn gọi là cách mạng kỹ thuật số). Trong tác phẩm kinh điển của mình, Manuel Castells đã định nghĩa nền kinh tế mới là nền kinh tế của "thông tin, toàn cầu và kết nối mạng để xác định các đặc điểm riêng biệt cơ bản của nó và nhấn mạnh sự đan xen của chúng" (the informational, global, network economy). Đó là một hệ thống mà năng suất và lợi nhuận được tạo ra chủ yếu thông qua việc tạo ra, xử lý và áp dụng kiến thức dựa trên công nghệ thông tin[5]. Theo Manuel Castells tính thông tin được thể hiện qua năng suất và khả năng cạnh tranh của các đơn vị hoặc tác nhân trong nền kinh tế này (dù là doanh nghiệp, khu vực hay quốc gia) về cơ bản phụ thuộc vào khả năng tạo ra, xử lý và áp dụng hiệu quả thông tin dựa trên tri thức. Tính toàn cầu được đặc trưng bởi các hoạt động cốt lõi của sản xuất, tiêu dùng và lưu thông, cũng như các thành phần của chúng (vốn, lao động, nguyên liệu thô, quản lý, thông tin, công nghệ, thị trường) được tổ chức trên phạm vi toàn cầu, trực tiếp hoặc thông qua mạng lưới liên kết giữa các tác nhân kinh tế. Tính kết nối mạng được thể hiện qua năng suất được tạo ra trong điều kiện lịch sử mới và cạnh tranh diễn ra trong một mạng lưới kinh doanh tương tác toàn cầu.
Posner[6] chỉ ra rằng các ngành công nghiệp trong nền kinh tế mới được đặc trưng bởi chi phí bình quân giảm trong một phạm vi sản lượng rộng, tốc độ đổi mới khác nhau, sự gia nhập và rút lui nhanh chóng và thường xuyên, cùng với hiệu ứng mạng lưới. Dosi cho rằng sự thay đổi luôn là dấu ấn của các nền kinh tế thị trường hiện đại. Các đổi mới về công nghệ và tổ chức lần lượt là động lực chính của sự thay đổi, định hình, tái định hình và đôi khi hoàn toàn lật đổ trật tự hiện có[7]. Mặc dù các học giả về kinh tế có những quan điểm khác nhau về nền kinh tế mới nhưng giữa họ đều có một số điểm chung sau: (i) khẳng định sự thay đổi trong nền kinh tế thế giới về cấu trúc cũng như động lực tăng trưởng kinh tế; (ii) nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), hiệu ứng mạng lưới và tốc độ đổi mới nhanh chóng.
Tại Việt Nam, với mô hình kinh tế chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được bao lâu, Việt Nam đứng trước rất nhiều thách thức và học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế để có thể đứng vững và phát triển. Khái niệm nền kinh tế mới còn khá xa lạ với một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam ở những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, nắm bắt được xu thế của nền kinh tế thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã cùng nhân dân từng bước thay đổi trong nhận thức và hành động để đạt được thành tích đáng tự hào. Năm 2020 là năm cả thế giới phải gánh chịu hậu quả nặng nề về kinh tế từ đại dịch Covid 19, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn được Tạp chí The Economist tháng 8 năm 2020 đã xếp hạng trong top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, với tăng trưởng kinh tế bình quân 6,8% một năm giai đoạn 2016-2019, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia tăng trưởng cao nhất[8]. Đến năm 2024, Việt Nam là đại diện Đông Nam Á duy nhất lọt vào top 10 với dự báo tăng trưởng 6,4% từ năm 2024 đến 2029. IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) dự báo Việt Nam sẽ có một giai đoạn tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, trở thành một trong các nền kinh tế mới nổi có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy phát triển kinh tế trong khu vực và trên thế giới[9]. Như vậy, có thể thấy Việt Nam được IMF xếp vào nhóm quốc gia có nền kinh tế mới nổi (emerging market economy). Nền kinh tế thị trường mới nổi là nền kinh tế của một quốc gia đang phát triển hội nhập vào thị trường toàn cầu, được đánh dấu bằng sự tăng trưởng nhanh chóng về GDP, khối lượng thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), được đặc trưng bởi sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp hóa, áp dụng các cải cách và tiêu chuẩn từ các thị trường phát triển để hỗ trợ quá trình chuyển đổi. Tuy nhiên, chúng đi kèm với những rủi ro như bất ổn chính trị và biến động tiền tệ, mang đến cho các nhà đầu tư cả cơ hội lẫn thách thức.
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cũng tận dụng các hiệp định thương mại tự do để mở rộng thương mại B2B (Business to Business). Chính phủ Việt Nam đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật số, nâng cao khả năng kết nối và thanh toán, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại điện tử xuyên biên giới. Thị trường thương mại điện tử Việt Nam dự báo vượt mức 25 tỷ USD vào năm 2025, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình chuyển đổi số. Do đó, sự ảnh hưởng của nền kinh tế mới cũng tác động rất lớn đến thị trường của Việt Nam, đặc biệt sự thống trị của các công ty công nghệ lớn (Big Tech) như Google, Amazon, Meta (Facebook) đặt ra vấn đề mới về luật cạnh tranh. Các công ty này thường đạt được vị thế độc quyền thông qua hiệu ứng mạng, việc thu thập và sử dụng dữ liệu khổng lồ, và mua lại các đối thủ tiềm năng. Việc áp dụng các quy tắc cạnh tranh truyền thống dựa trên giá cả và sản lượng gặp khó khăn vì nhiều dịch vụ số là "miễn phí" với người dùng (công cụ tìm kiếm).
2.2. Tiêu chí xác định vị trí thống lĩnh thị trường trong nền kinh tế mới
2.2.1. Các tiêu chí xác định VTTLTT truyền thống trong nền kinh tế mới ở Việt Nam
Schumpeter là một trong những nhà kinh tế có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20, và nổi tiếng với thuật ngữ "phá hủy sáng tạo" trong kinh tế. Ông đã giải thích rằng các quy trình vốn có của bất kỳ xã hội tư bản nào cũng tạo ra một sự hủy diệt mang tính sáng tạo, theo đó những đổi mới sẽ phá hủy các công nghệ và phương pháp sản xuất hiện có, chỉ để rồi bị tấn công bởi các sản phẩm đối thủ bắt chước với cấu hình mới hơn, hiệu quả hơn[10]. Lý thuyết của Schumpeter có ảnh hưởng lớn về sự đổi mới và phát triển kinh tế trên thế giới. Việt Nam chính thức hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 1986 khi bắt đầu công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế và gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào tháng 7/1995 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập. Nền kinh tế càng phát triển thì sức ép từ cạnh tranh của các doanh nghiệp càng lớn, đặc biệt là sự lớn mạnh của các doanh nghiệp có VTTLTT. Với sức mạnh thị trường đáng kể, doanh nghiệp có VTTLTT có thể gây hại cho đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng nếu họ lạm dụng VTTLTT.
Các nước trên thế giới đã sớm coi pháp luật cạnh tranh trở thành công cụ đắc lực để điều tiết nền kinh tế. Theo thống kê của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD), đã có gần 150 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới ban hành Luật cạnh tranh/Luật Chống độc quyền, trong đó có Việt Nam. Luật Cạnh tranh đầu tiên của Việt Nam ra đời năm 2004 với các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT khá đầy đủ, cụ thể và chi tiết. Để có thể kết luận một vụ việc có dấu hiệu lạm dụng VTTLTT thì trước tiên cơ quan có thẩm quyền phải xác định được doanh nghiệp đó có VTTLTT hay không. Các tiêu chí xác định VTTLTT được quy định khác nhau đối với chủ thể là doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp: (i) doanh nghiệp sẽ áp dụng một trong hai tiêu chí đó là thị phần hoặc khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể; nhóm doanh nghiệp phải căn cứ vào 02 tiêu chí là thị phần (Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan) và cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh[11]. Như vậy, đối với chủ thể là doanh nghiệp thì cơ quan có thẩm quyền có thể lựa chọn một trong hai tiêu chí để xác định VTTLTT. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thực thi, các quy định này đã bộc lộ nhiều hạn chế. Việc áp dụng các quy định về lạm dụng VTTLTT để xác định doanh nghiệp có VTTLTT, nhận diện và xử lý hành vi lạm dụng VTTLTT còn rất khó khăn, phức tạp. Giai đoạn từ 2006 đến 2017, Cục quản lý cạnh tranh (CQLCT), cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam về quản lý cạnh tranh, mới chỉ thụ lý điều tra được 8 vụ việc về hạn chế cạnh tranh (HCCT), trong đó có 4 vụ việc liên quan đến hành vi lạm dụng VTTLTT. Để khắc phục những bất cập của Luật Cạnh tranh 2004 (LCT 2004), đồng thời đáp ứng đòi hỏi về hoàn thiện các thể chế kinh tế thị trường, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu với sự tham gia sâu rộng của Việt Nam vào các sân chơi chung của khu vực và thế giới, LCT 2018 đã được ban hành với nhiều sửa đổi tích cực liên quan đến kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT. Theo đó, tiêu chí để xác định doanh nghiệp có VTTLTT là: (i) có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan; (ii) có sức mạnh thị trường đáng kể[12]. Tuy nhiên, kế thừa LCT 2004, việc xác định VTTLTT chỉ cần dựa trên một trong hai tiêu chí trên.
Với tiêu chí thị phần, kinh nghiệm của các nước cho thấy, việc xác định VTTLTT dựa chủ yếu dựa vào thị phần hoặc chỉ dựa vào thị phần như nước ta hiện nay nhiều khi đưa đến kết quả không chính xác. Bởi trong nhiều trường hợp những yếu tố như có tồn tại rào cản gia nhập thị trường, cấu trúc hiện thị trường hiện tại và tương quan về vị thế giữa các doanh nghiệp ảnh hưởng lớn đến sự hình thành VTTLTT. Theo LCT 2018, thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan được xác định theo một trong các phương pháp sau đây: (i) Tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu bán ra của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm; Tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm; (iii) Tỷ lệ phần trăm giữa số đơn vị hàng hóa, dịch vụ bán ra của doanh nghiệp này với tổng số đơn vị hàng hóa, dịch vụ bán ra của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm; (iv) Tỷ lệ phần trăm giữa số đơn vị hàng hóa, dịch vụ mua vào của doanh nghiệp này với tổng số đơn vị hàng hóa, dịch vụ mua vào của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm[13]. Mặc dù phương pháp xác định thị phần của doanh nghiệp có VTTLTT đã được mở rộng để nắm bắt kịp thời xu thế vận động của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh nền kinh tế mới, đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật số thì tiêu chí thị phần bộc lộ nhiều hạn chế:
Thứ nhất, sự thiếu chính xác về doanh thu. Nếu xác định thị phần dựa trên doanh thu từ người dùng đối với các nền tảng số (Google Search, Facebook, Instagram), thị phần đó sẽ bằng 0 hoặc không đáng kể, không phản ánh được quyền lực thị trường thực tế do dịch vụ họ cung cấp là miễn phí (trao đổi dữ liệu lấy dịch vụ). Thị phần được tính dựa trên doanh thu quảng cáo cũng không hoàn toàn chính xác, vì doanh thu quảng cáo không phải thị trường cốt lõi (core market) mà người dùng đang sử dụng.
Thứ hai, yếu tố định lượng 30% thị phần trở lên không phản ánh đúng sức mạnh thị trường vì trong nền kinh tế mới, có thể có những doanh nghiệp có thị phần dưới 30% nhưng lại sở hữu thuật toán, công nghệ độc quyền của ngành, dữ liệu lớn (big data), hiệu ứng mạng lưới, hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ tạo hiệu ứng khóa chặt người tiêu dùng (lock in). Ngược lại, một doanh nghiệp có thị phần cao nhưng lại bị cạnh tranh bởi nhiều đối thủ mới.
Thứ ba là về thị trường liên quan. Dù xác định VTTLTT dựa trên tiêu chí thị phần hay sức mạnh thị trường đáng kể (phi thị phần) thì cũng phải đặt sản phẩm, dịch vụ đó trong cùng một thị trường liên quan. Tuy nhiên, đối với các nền tảng số, việc xác định thị trường liên quan theo nghĩa truyền thống không còn phù hợp. Đối với thị trường sản phẩm liên quan, sản phẩm, dịch vụ số thường tích hợp nhiều chức năng, trong nhiều trường hợp lại được cung cấp miễn phí. Do đó, việc xác định sản phẩm nào là có thể thay thế theo phương pháp truyền thống trở nên khó áp dụng trong thực tế (kể cả đối với phép thử SSNIP). Đối với thị trường địa lý liên quan, các sản phẩm, dịch vụ thường có phạm vi toàn cầu, xuyên biên giới, do đó việc xác định thị trường liên quan dựa trên ranh giới địa lý truyền thống không còn phù hợp. Vụ việc Grab mua lại Uber tại thị trường Việt Nam kéo dài do tranh luận về định nghĩa thị trường liên quan. Trong báo cáo điều tra của Cục Quản lý cạnh tranh (VCA) thì “thị trường sản phẩm liên quan là thị trường dịch vụ trung gian kết nối vận tải giữa người đi xe và lái xe ô tô dưới 09 chỗ trên nền tảng phần mềm và tổng đài”. Với cách tiếp cận như vậy, các hãng taxi sẽ không phải là doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan với Grab và Uber. Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra, VCA luôn bám theo hướng các hãng taxi là đối thủ cạnh tranh (nằm trên cùng thị trường liên quan với Grab và Uber)[14]. Điều này dẫn đến sự thiếu logic và không nhất quán. Thêm một vụ việc điển hình gần đây nhất tại Việt Nam cho thấy việc xác định chính xác thị trường liên quan quan trong như thế nào đối với việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường, đó là SPX Express bị Ủy ban Cạnh tranh quốc gia xử phạt vào đầu năm 2025 về hành vi cạnh tranh không lành mạnh vì đưa thông tin gây nhầm lẫn cho khách hàng về sản phẩm, dịch vụ…[15] SPX Express không đơn thuần là một đơn vị logistics độc lập. Trong cấu trúc của Sea Group, SPX đóng vai trò là đơn vị vận chuyển nội bộ chủ lực. Tính đến thời điểm xử phạt, SPX xử lý đại đa số đơn hàng trên sàn Shopee - sàn thương mại điện tử (TMĐT) đang giữ vị trí thống lĩnh về lưu lượng truy cập và giao dịch tại Việt Nam. Vụ việc này bộc lộ những dấu hiệu đặc trưng trong các nền tảng số đó là hiệu ứng "Khóa chặt" (Lock-in Effect) và Hệ sinh thái đối với người bán (sellers) và người mua trên Shopee bị "khóa" vào dịch vụ của SPX do các thuật toán ưu tiên hiển thị hoặc các chính sách miễn phí vận chuyển (Freeship) chỉ áp dụng khi dùng SPX. Các nền tảng thương mại điện tử lớn đang dần trở thành “người chơi hai vai”, vừa làm sàn giao dịch, vừa sở hữu đơn vị vận chuyển, dẫn đến những mâu thuẫn lợi ích tiềm ẩn. Khi sàn ưu tiên cho đơn vị vận chuyển của mình, lại cộng thêm thông tin tiếp thị thiếu minh bạch, thị trường có nguy cơ trở nên méo mó, làm khó các doanh nghiệp vận tải độc lập vốn đã chịu nhiều áp lực cạnh tranh.
Về tiêu chí sức mạnh thị trường đáng kể, mặc dù LCT 2018 đã bổ sung các yếu tố để xác định sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp có VTTLTT[16] nhưng đặt trong bối cảnh nền kinh tế mới vẫn chưa bao quát hết được.
Thứ nhất, các yếu tố để xác định sức mạnh thị trường đáng kể mang tính định tính, thiếu các ngưỡng đo lường cụ thể gây khó khăn trong việc áp dụng (sức mạnh tài chính, lợi thế về công nghệ, hạ tầng kỹ thuật v.v.)
Thứ hai, các yếu tố để xác định sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp từ tài sản (lợi thế về công nghệ, hạ tầng kỹ thuật; khả năng nắm giữ, tiếp cận, kiểm soát thị trường phân phối; quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ) chưa phản ánh được tài sản đặc thù trong nền kinh mới như dữ liệu lớn (big data), độc quyền về thuật toán (algorithmic monopoly). Thuật toán phổ biến hiện nay có thể thấy trên các nền tảng số: thuật toán đề xuất nội dung, xếp hạng, cá nhân hóa quảng cáo v.v... đang trở thành bí mật thương mại của các công ty thống lĩnh như (google, facebook). Bên cạnh đó, kho dữ liệu người dùng khổng lồ là nguồn cung quan trọng nhất, tạo ra rào cản gia nhập về dữ liệu mà đối thủ mới không thể có được.
Thứ ba, chi phí chuyển đổi (khả năng chuyển sang nguồn cung hoặc cầu đối với các hàng hóa, dịch vụ liên quan khác) của doanh nghiệp, người tiêu dùng đề cập chủ yếu đến thời gian và chi phí. Nhưng thực tế, trong lĩnh vực kỹ thuật số, người dùng có thể quan tâm nhiều hơn đến các chi phí khác như mạng lưới bạn bè, đối tác trên mạng xã hội hay phải học cách làm quen với một nền tảng số khác. Thực tế cho thấy đây là rào cản khá lớn, thậm chí còn hơn cả chi phí về tiền bạc. Chưa kể đến hiệu ứng khóa cứng (lock in) mà các doanh nghiệp tạo ra cho khách hàng khiến họ khó có thể chuyển sang sử dụng sản phẩm, dịch vụ khác.
Thứ tư, yếu tố nắm giữ, khả năng kiểm soát thị mạng lưới phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hoặc nguồn cung trên thị trường và quyền sở hữu, nắm giữ, tiếp cận cơ sở hạ tầng cũng đang được đánh giá trong trạng thái ‘tĩnh”. Cơ sở hạ tầng và đại lý phân phối trong thị trường truyền thống sẽ không giống với cơ sở hạ tầng và mạng lưới trong môi trường số. Điển hình như vụ việc của Google shopping với lợi thế là nhà cung cấp đã có hành vi tự ưu tiên cho sản phẩm của mình (self-preferencing) và phân biệt đối xử với đối thủ cạnh tranh[17]. Nhưng trong một hoàn cảnh tương tự của thị trường truyền thống, một siêu thị có lợi thế về cơ sở hạ tầng và mạng lưới phân phối đã sử dụng lợi thế đó để ưu tiên sản phẩm của mình (đặt sản phẩm ở vị trí trung tâm, giá cả cạnh tranh) thì lại không bị coi là vi phạm.
Thứ năm, mặc dù đã có điều khoản “quét” cho những yếu tố đặc thù của các ngành và lĩnh vực mà doanh nghiệp có VTTLTT đang hoạt động, nhưng nếu không được hướng dẫn cụ thể rất có thể dẫn đến bỏ sót hoặc áp dụng tùy tiện “đặc thù ngành” khi điều tra để xác định sức mạnh thị trường đáng kể.
2.2.2 Kinh nghiệm quốc tế về tiêu chí xác định VTTLTT
Tại Hoa Kỳ, khái niệm “độc quyền” bao hàm cả VTTLTT, do đó, các tiêu chí xác định chủ thể có vị trí độc quyền cũng chính là tiêu chí xác định VTTLTT. Luật Sherman của Hoa Kỳ được ban hành nhằm hai mục tiêu là chống lại các thỏa thuận giữa các doanh nghiệp nhằm lũng đoạn thị trường (cartel) và chống độc quyền hóa. Tại mục 2 của đạo luật Sherman doanh nghiệp có VTTLTT được hiểu là “doanh nghiệp có khả năng định giá cao hơn đáng kể so với mức giá cạnh tranh và cố tình gây ra hành vi này trong một khoảng thời gian nhất định nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh mới gia nhập hoặc mở rộng thị trường”. Như vậy, theo quy định trên Hoa Kỳ căn cứ vào tiêu chí sức mạnh thị trường về giá. Bên cạnh đó, qua thực tiễn xét xử (vụ kiện lịch sử của Tòa án Hoa Kỳ với Alcoa 1945, AT&T 1974, Standard Oil 1911, v.v.), tiêu chí thị phần cũng là tiêu chí phổ biến được Tòa án của Hoa Kỳ xác định VTTLTT[18]. Sau này, tiêu chí đã được mở rộng hơn trong các vụ kiện về công nghệ ở Hoa Kỳ. Trong nền kinh tế mới, các thẩm phán của Hoa Kỳ đã phải thừa nhận rằng có nhiều tiêu chí trong “nền kinh tế cũ” không còn phù hợp để xác định VTTLTT. Vụ việc của Microsoft (2001) là một ví dụ điển hình, Microsoft bị kết luận là độc quyền nhưng Tòa án nhấn mạnh đến những tiêu chí hoàn toàn khác biệt hơn là tiêu chí thị phần, đó là hiệu ứng mạng lưới, thị trường công nghệ năng động, tính đổi mới nhanh chóng và rào cản gia nhập thị trường đáng kể[19]. Một minh chứng điển hình cho việc dựa vào tiêu chí thị phần là không đủ để xác định VTTLTT là vụ việc Syufy (1990), mặc dù có thị phần rất cao trong thị trường rạp chiếu phim Las Vegas nhưng rào cản gia nhập không đáng kể nên Tòa án đã bác bỏ sức mạnh độc quyền của Syufy[20]. Với vụ việc của Kodak 1992 lại mở rộng tiêu chí xác định VTTLTT ở Hoa Kỳ với tiêu chí về rào cản thông tin và chi phí chuyển đổi. Theo đó, mặc dù có thị phần thấp trên thị trường máy photocopy lớn, Tòa án xác định rằng Kodak có sức mạnh độc quyền trong thị trường ngách các linh kiện và dịch vụ sửa chữa cho chính máy của họ. Vụ án này là một bước ngoặt, chứng minh rằng phân tích sức mạnh độc quyền phải vượt ra khỏi việc chỉ xem xét thị phần ở thị trường chính[21].
Luật cạnh tranh của EU cũng ảnh hưởng đáng kể của Luật chống độc quyền của Hoa Kỳ. Điều 102 của TFEU đã đưa ra các tiêu chí xác định VTTLTT dựa trên thị phần và các tiêu chí khác khi thị phần là không đủ để xác định như rào cản gia nhập/mở rộng, vị thế của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, quyền lực đối trọng của người mua, lợi thế khác biệt. Ủy ban Châu Âu và Tòa án đã thiết lập các ngưỡng thị phần như sau: (i) trên 50% được coi là có VTTLTT (Sự công nhận này từ ủy ban được thể hiện trong các quyết định của Tetra Pak Rausing SA v Commission[22] với thị phần 91%, BPP Industries Plc và British Gypsum Ltd v Commission[23] với thị phần 96% và Microsoft Corp. v Commission[24] và Google v Commission[25] đều được xác định là có thị phần vượt quá 90%); từ 40%-50% có thể xác định VTTLTT nhưng phải được xem xét các yếu tố khác; từ 25%-40% có sự thống trị đơn lẻ là không thể trừ khi có một thị trường phân mảnh và các yếu tố quan trọng khác. Tuy nhiên, thực tế vẫn có thể phát hiện ra sự thống trị trong Virgin/British Airways với thị phần 39,7%; dưới 25% khả năng xác định VTTLTT gần như không có hoặc phải xem xét cùng với các yếu tố khác (20%). Bên cạnh thước đo định lượng thị phần ở các ngưỡng cụ thể, Ủy ban còn chú trọng đến các tiêu chí khác trong trường hợp thị phần chưa đủ chứng minh sức mạnh thị trường của doanh nghiệp có VTTLTT tại mục 12 của TFEU. Tiêu chí rào cản gia nhập/mở rộng thị trường, đối thủ cạnh tranh tiềm năng được hướng dẫn chi tiết tại mục 16 và 17 của TFEU[26] trong đó nêu rõ Uỷ ban sẽ xem xét tác động tiềm tàng của việc khách hàng mới gia nhập thị trường cũng như việc mở rộng các đối thủ cạnh tranh hiện tại “có khả năng, kịp thời và đủ” để doanh nghiệp thay đổi hành vi của mình hay không? Các loại rào cản mà Ủy ban có thể xem xét được liệt kê trong Mục 17 là các rào cản pháp lý, lợi thế kinh tế mà doanh nghiệp thống lĩnh được hưởng, chi phí và hiệu ứng mạng lưới cản trở khách hàng chuyển từ nhà cung cấp này sang nhà cung cấp khác và hành vi và hiệu suất của chính công ty thống lĩnh. Vụ Nestlé là một minh chứng cho việc mặc dù thị phần đạt gần 50% tại Pháp nhưng Nestlé không được Ủy ban xác định là có VTTLTT vì có đối thủ cạnh tranh tiềm năng là Badoit/Evian[27]. Vụ việc của Microsoft (2004)[28] chứng minh rằng các yếu tố về công nghệ và tính năng động của thị trường (rào cản gia nhập) có vai trò quyết định trong việc xác định sự tồn tại và tính bền vững của vị trí thống lĩnh. Tiêu chí sở hữu độc quyền sáng chế thiết yếu cũng được Ủy ban xem xét trong vụ Motorola và Apple[29]. Ủy ban đã xác định Motorola có VTTLTT không phải dựa trên thị phần chung của điện thoại, mà dựa trên tính chất độc quyền được trao bởi bằng sáng chế của họ. VTTLTT được Uỷ ban suy ra trực tiếp từ tính chất của SEP (bằng sáng chế thiết yếu tiêu chuẩn): Tính không thể thay thế. Khi một công nghệ đã được chuẩn hóa và đưa vào tiêu chuẩn ngành (Standard Essential Patent - SEP), bất kỳ công ty nào muốn sản xuất sản phẩm tuân thủ tiêu chuẩn đó buộc phải sử dụng công nghệ của chủ sở hữu SEP. Điều này tạo ra một vị thế độc quyền không thể thay thế đối với công nghệ đó, bất kể thị phần tổng thể của Motorola trên thị trường điện thoại là bao nhiêu. Điều này dẫn đến rào cản gia nhập rất cao đối với đối thủ cạnh tranh vì họ không thể vi phạm tiêu chuẩn thiết kế ngành. Như vậy, EU sử dụng công cụ định lượng và định tính trong việc xác định VTTLTT. Tuy nhiên, thước đo thị phần được xác định cụ thể ở từng ngưỡng rõ ràng hơn Hoa Kỳ.
Theo Luật mẫu về cạnh tranh (Model Law on Competion) của Hội nghị Liên Hợp quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD)[30] không đưa ra tiêu chí định lượng về thị phần mà chỉ đưa ra tiêu chí định tính về sức mạnh thị trường của doanh nghiệp/nhóm doanh nghiệp. Luật Mẫu của UNCTAD chỉ là một khuôn khổ đề xuất nhằm giúp các quốc gia (đặc biệt là các nước đang phát triển) xây dựng hoặc cải cách luật cạnh tranh của mình. Pháp luật cạnh tranh của từng quốc gia có thể điều chỉnh và cụ thể hóa các tiêu chí này bằng các ngưỡng thị phần cụ thể hoặc các yếu tố xác định khác.
Ở Nhật Bản, tương tự như Hoa Kỳ, khái niệm VTTLTT không được định nghĩa rõ ràng mà được hiểu đồng nhất với khái niệm độc quyền tư nhân và vị thế mặc cả vượt trội[31]. Vị trí độc quyền tư nhân được Ủy ban Thương mại Công bằng Nhật Bản (Japan Fair Trade Commission JFTC) xác định theo các tiêu chí sau: (i) thị phần và (ii) các tiêu chí khác (thứ hạng của công ty, điều kiện cạnh tranh trên thị trường, áp lực cạnh tranh tiềm năng trên thị trường liên quan). Đối với tiêu chí thị phần, JFTC sẽ ưu tiên điều tra một trường hợp là độc quyền tư nhân loại trừ nếu thị phần của công ty vượt quá khoảng 50% sau khi hành vi bị nghi ngờ bắt đầu. Trong Luật chống độc quyền của Nhật Bản (AMA) còn có một khái niệm khác là lạm dụng vị thế mặc cả vượt trội. Điều này không yêu cầu công ty phải có VTTLTT theo nghĩa truyền thống (như trong EU). Thay vào đó, nó đòi hỏi một vị thế vượt trội tương đối so với đối tác giao dịch. Vị thế mặc cả vượt trội được xác định dựa trên bốn yếu tố: (i) Mức độ phụ thuộc của đối tác giao dịch vào các giao dịch với công ty đó; (ii) Vị thế của công ty trong thị trường. (iii) Khả năng đối tác giao dịch có thể dễ dàng chuyển sang đối tác khác; (iv) Các hoàn cảnh khác liên quan. Thực tiễn xử lý các vụ việc chống độc quyền ở Nhật Bản cho thấy các vụ việc tập trung chủ yếu vào các vụ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi hạn chế thương mại bất hợp lý. Theo các báo cáo thường niên giai đoạn 2019 – 2023, JFTC đã ban hành các cảnh báo về dấu hiệu của hành vi này cụ thể: Năm 2020: JFTC đã ban hành 47 cảnh báo về các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường liên quan đến vị trí thương lượng vượt trội (superior bargaining position); Năm 2022: JFTC thực hiện tổng cộng 275 cảnh báo, trong đó có 192 cảnh báo liên quan đến các hành vi bán giá thấp không công bằng, một dạng vi phạm có liên quan đến lạm dụng sức mạnh thị trường; Năm 2023: JFTC đã ban hành 3 cảnh báo chính thức đối với các doanh nghiệp cụ thể liên quan đến các vi phạm luật cạnh tranh[32]. Năm 2023, cơ quan chức năng Nhật Bản đã tiến hành điều tra và tháng 4/2025 JFTC ra quyết định xử lý đối với Google liên quan đến các hành vi bị cáo buộc là vi phạm AMA, đặc biệt trong thị trường tìm kiếm trên điện thoại thông minh Android. JFTC đã điều tra và kết luận rằng Google đã sử dụng vị thế thống lĩnh của mình để thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh trong thị trường dịch vụ tìm kiếm tổng quát, thông qua các hợp đồng với các nhà sản xuất điện thoại thông minh Android (OEM) và nhà mạng[33]. Đây cũng là lần đầu tiên Nhật Bản áp dụng biện pháp này với một tập đoàn công nghệ lớn đến từ Mỹ.
Ra đời muộn hơn Luật Cạnh tranh của Việt Nam, Luật chống độc quyền của Trung Quốc (AML) đã trở thành công cụ đắc lực trong cuộc chiến chống độc quyền nhằm bảo vệ thị trường nội địa trước sức ép cạnh tranh của các công ty, tập đoàn lớn về công nghệ ở nước ngoài. Theo điều 23 của AML, việc xác định VTTLTT dựa trên các tiêu chí: (1) thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan và mức độ cạnh tranh trên thị trường liên quan; (2) khả năng của doanh nghiệp trong việc kiểm soát thị trường bán hàng hoặc thị trường mua nguyên liệu thô; (3) nguồn lực tài chính và năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp; (4) mức độ mà các doanh nghiệp khác dựa vào doanh nghiệp đó để giao dịch; (5) mức độ khó khăn của các doanh nghiệp khác khi tham gia vào thị trường liên quan; (6) các yếu tố khác có liên quan đến việc xác định VTTLTT của doanh nghiệp. Đối với tiêu chí thị phần, AML đưa ra ngưỡng từ 50% (doanh nghiệp), 66,6% (hai doanh nghiệp), 75% (ba doanh nghiệp) trên thị trường liên quan được cho là doanh nghiệp nắm giữ VTTLTT. Tuy nhiên, nếu có bằng chứng chứng minh doanh nghiệp đó không nắm giữ VTTLTT thì lúc này thị phần cao là không đủ để xác định VTTLTT. Như vậy, Trung Quốc dựa vào nhiều tiêu chí để xác định VTTLTT bao gồm cả giả định về thị phần và các tiêu chí định tính liên quan đến sức mạnh thị trường của doanh nghiệp. Cũng giống như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc không coi thị phần là tiêu chí mặc nhiên để doanh nghiệp được coi là có VTTLTT. Thực tế xử lý các vụ việc lạm dụng VTTLTT ở Trung Quốc cho thấy, VTTLTT của doanh nghiệp được cơ quan quản lý chống độc quyền (SAMR) xác định dựa trên sự kết hợp của tiêu chí định lượng và định tính. Cụ thể trong vụ việc của Alibaba (thị phần hơn 90%), Meituan (thị phần trên 50%), mặc dù chiếm thị phần cao nhưng SAMR vẫn dựa trên sự kết hợp của các yếu tố khác như sự kiểm soát dữ liệu và lợi thế về thuật toán, hiệu ứng mạng lưới, rào cản gia nhập thị trường để xác định VTTLTT. Điều này cho thấy sự thay đổi phù hợp của Luật chống độc quyền Trung Quốc trong nền kinh tế mới, trước sự ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ của các công ty hàng đầu về công nghệ.
2.3. Một số đề xuất về tiêu chí để xác định VTTLTT ở Việt Nam trong nền kinh tế mới
Nền kinh tế mới (new economy) thường có đặc trưng như nền tảng đa mặt (multi-sided platforms), dịch vụ miễn phí (zero-price markets), hiệu ứng mạng lưới (network effects), dữ liệu lớn (big data), và tốc độ đổi mới cao v.v. Hoa Kỳ, EU là những nước theo dòng họ pháp luật common law nên việc bổ sung các tiêu chí xác định VTTLTT có phần linh hoạt hơn thông qua thực tế xử lý các vụ việc chống độc quyền của Tòa án. Đối với những nước theo dòng họ pháp luật civil law như Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam v.v… thì việc xử lý các vụ việc đa phần dựa vào hệ thống pháp luật thành văn. Do đó việc xử lý vụ việc lạm dụng VTTLTT chủ yếu dựa vào các quy định hiện hành của pháp luật các quốc gia đó. Nếu không được sửa đổi, bổ sung các tiêu chí để phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ trong nền kinh tế mới thì pháp luật cạnh tranh sẽ không phát huy hiệu quả cao, cơ quan quản lý thiếu đi công cụ hữu hiệu để xử lý các doanh nghiệp có VTTLTT hoặc nhận định sai VTTLTT dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp. Các tiêu chí xác định VTTLTT của Việt Nam hiện nay tập trung vào thị phần và sức mạnh thị trường thường chỉ phù hợp với thị trường truyền thống. Cần sửa đổi, bổ sung theo hướng kết hợp linh hoạt giữa tiêu chí truyền thống và các tiêu chí mới như sau:
Thứ nhất, tiêu chí thị phần (>30%) không nên được coi là yếu tố duy nhất để xác định VTTLTT của doanh nghiệp mà cần kết hợp với các yếu tố định tính khác. Hiện nay, theo LCT 2018 của Việt Nam, cơ quan điều tra có quyền lựa chọn một trong hai phương thức: (i) căn cứ vào thị phần: nếu thị phần của 01 doanh nghiệp đạt từ 30%, 02 doanh nghiệp đạt từ 50%, 03 doanh nghiệp đạt từ 65%, 04 doanh nghiệp đạt từ 75%, 05 doanh nghiệp trở lên đạt từ 85% trở lên trên thị trường liên quan thì mặc nhiên được xác định doanh nghiệp/nhóm doanh nghiệp có VTTLTT mà không cần phải áp dụng các tiêu chí định tính khác để điều tra; (ii) căn cứ vào sức mạnh thị trường đáng kể. Quy định như trên sẽ thiệt thòi cho doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp tuy có thị phần đạt ngưỡng quy định nhưng không có sức mạnh thị trường trong thực tế. Ngược lại, có doanh nghiệp có thị phần thấp nhưng có sức mạnh thị trường đáng kể vì có lợi thế về công nghệ vượt trội, hiệu ứng mạng lưới, dữ liệu lớn v.v… nhưng lại bị bỏ lọt do không được xác định là có VTTLTT. Cả hai trường hợp trên đều gây thiệt hại cho doanh nghiệp, đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng và nền kinh tế. Bên cạnh đó, việc xác định VTTLTT dựa trên tiêu chí định tính sức mạnh thị trường đòi hỏi cơ quan điều tra có nghiệp vụ chuyên môn cao về kinh tế, mất nhiều thời gian và tiền bạc cùng với sự phối hợp của các cơ quan chuyên ngành. Do đó, nếu quy định có thể lựa chọn một trong hai phương thức để điều tra thì tâm lý lựa chọn tiêu chí thị phần sẽ dễ dàng hơn cho cơ quan điều tra.
Thứ hai, đối với tiêu chí định tính sức mạnh thị trường đáng kể cần bổ sung một số yếu tố phù hợp với nền kinh tế mới như lợi thế về dữ liệu lớn, hiệu ứng mạng lưới, sở hữu thuật toán, chi phí chuyển đổi, vị thế của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, quyền lực đối trọng của người mua. Hiện nay, tiêu chí định tính xác định VTTLTT theo LCT 2018 của Việt Nam dựa trên sức mạnh thị trường đáng kể thay thế cho tiêu chí “khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể”[34] đã được bổ sung thêm các yếu tố để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong thời kỳ hội nhập quốc tế như: khả năng nắm giữ, tiếp cận, kiểm soát thị trường phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hoặc nguồn cung hàng hóa, dịch vụ; Lợi thế về công nghệ, hạ tầng kỹ thuật; quyền sở hữu, nắm giữ, tiếp cận cơ sở hạ tầng; quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ v.v. Tuy nhiên, những yếu tố trên chưa bao quát hết được lợi thế sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp trong nền kinh tế mới. Mặc dù ở Việt Nam cơ quan có thẩm quyền chưa xử lý vụ việc lạm dụng VTTLTT nào như vụ Google shopping, Google android ở Hoa Kỳ; Microsoft của EU hay Kodak ở Nhật Bản, Meta ở Đức v.v. liên quan đến hành vi tự ưu tiên và hạ thấp đối thủ cạnh tranh, sử dụng thuật toán, hiệu ứng mạng lưới nhưng khi Việt Nam hội nhập quốc tế, các công ty, tập đoàn hàng đầu thế giới cũng gia nhập thị trường Việt Nam. Họ cũng có những hành vi tương tự trên các nền tảng công nghệ ở nước ta nhưng hiện chưa bị cơ quan quản lý về cạnh tranh xử lý.
Cần định lượng rõ nét hơn tiêu chí sức mạnh thị trường đáng kể trên cơ sở tham khảo Đạo luật Thị trường Kỹ thuật số (DMA - Digital Markets Act) của EU, cụ thể:
- Bổ sung khái niệm "Người gác cổng" (Gatekeepers). Theo DMA, để xác định một thực thể là người gác cổng, các cơ quan cạnh tranh thường sử dụng 3 nhóm tiêu chí: quy mô kinh tế, tầm kiểm soát người dùng, tính bền vững. Việt Nam có thể quy định về người gác cổng như sau: mức định giá trên 1 tỷ USD (Unicorn) đang hoạt động trong các lĩnh vực cốt lõi như TMĐT, thanh toán số; chiếm giữ trên 35% tổng lưu lượng truy cập của một ngành hàng tại quốc gia và đã được duy trì trong 3 năm liên tiếp).
- Về độc quyền tiếp cận dữ liệu: Khả năng thu thập dữ liệu độc quyền mà đối thủ không thể sao chép, khả năng sử dụng dữ liệu từ thị trường này (ví dụ: ví điện tử) để thống lĩnh thị trường khác.
Thiết nghĩ, LCT quy định chi tiết về các yếu tố để xác định VTTLTT sẽ là căn cứ để xử lý các doanh nghiệp thống lĩnh.
Các doanh nghiệp trong nền kinh tế mới đạt được vị thế thị trường bằng cách đổi mới mạnh mẽ. Việc bảo hộ bằng sáng chế, lợi thế kinh tế theo quy mô, hiệu ứng mạng lưới v.v. đều có thể dẫn đến sức mạnh thị trường đáng kể. Trong nhiều trường hợp, các công nghệ đơn lẻ thống trị thị trường và một doanh nghiệp đơn lẻ kiểm soát các công nghệ đó mà không chỉ dựa trên thị phần cao trên thị trường liên quan. Do đó, tiêu chí xác định VTTLTT truyền thống không còn phù hợp trước sự đổi mới liên tục của nền kinh tế mới. Khi phân tích sự thống lĩnh thị trường trong nền kinh tế mới, cần phải phân biệt rõ ràng sự khác biệt giữa lạm dụng vị thế thống lĩnh và sự tồn tại của vị thế thống lĩnh. Việc một doanh nghiệp có vị thế thống lĩnh không phải là một hành vi vi phạm pháp luật, chỉ khi doanh nghiệp có VTTLTT lạm dụng vị thế thống lĩnh đó để thực hiện hành vi bị cấm theo luật thực định của mỗi quốc gia mới bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh. Việc xác định doanh nghiệp/nhóm doanh nghiệp có VTTLTT là căn cứ đầu tiên, quan trọng để cơ quan có thẩm quyền tiến hành áp dụng thủ tục điều tra, xử lý đối với các hành vi do doanh nghiệp/nhóm doanh nghiệp đó thực hiện. Hiện nay, tiêu chí thị phần và sức mạnh thị trường đáng kể được nhiều nước trên thế giới sử dụng làm thước đo VTTLTT trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, nội hàm khái niệm sức mạnh thị trường đáng kể cần được học hỏi kinh nghiệm của các nước có bề dày lịch sử pháp luật cạnh tranh cũng như thực tiễn xử lý các vụ việc lạm dụng VTTLTT phong phú.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Tài liệu Tiếng Việt
1. Luật Cạnh tranh 2004.
2. Luật Cạnh tranh 2008.
3. Nghị định 30/NĐ-CP ngày 24 tháng 03 năm 2020 về quy định chi tiết một số Điều của Luật Cạnh tranh 2018.
4. Giáo trình Luật Cạnh tranh, Trường Đại học Kinh tế Luật, 2010.
5. Giáo trình Luật Cạnh tranh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Tư pháp, 2024.
6. Quyết định số 26/QĐ-HĐXL ngày 17 tháng 6 năm 2019 về việc xử lý vụ việc cạnh tranh 18 KX HCT 01.
7. Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2009, tr660.
8. Thực tiễn thực thi pháp luật cạnh tranh tại Úc, Nhật Bản và một số lưu ý dành cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia kinh doanh tại các thị trường này,https://vcc.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&category_id=e0904ba0-4694-4595-9f66-dc2df621842a&id=e52f6732-475b-4089-be01-dfb76d3b58fc, truy cập ngày 22/10/2025.
9. https://laodong.vn/thoi-su/thu-tuong-viet-nam-lot-top-16-nen-kinh-te-moi-noi-thanh-cong-nhat-the-gioi-865885.ldo, truy cập ngày 01/10/2025.
10. https://vtv.vn/kinh-te/viet-nam-lot-top-thi-truong-moi-noi-tang-truong-kinh-te-nhanh-nhat-20240523095728237.htm https://vtv.vn/kinh-te/viet-nam-lot-top-thi-truong-moi-noi-tang-truong-kinh-te-nhanh-nhat-20240523095728237.htm, truy cập ngày 01/10/2025.
11. https://vcc.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&id=ec2a1e2c-0a76-4a3b-b7e1-cd0c6758a5e0, truy cập ngày 17/01/2015.
B. Tài liệu Tiếng Anh
12. DOSI, Giovanni; TEECE, David J.; CHYTRY, Joseph. Technology, Organization, and Competitiveness, perspectives on industrial and corporate change. UK: Oxford, 1998, p. 1.
13 . Manuel Castells, the informational, global, network economy, 2000, tr77.
POSNER, Richard A. Antitrust Law. 2. ed. USA: The University of Chicago Press, 2001, p. 245-246.
14. Rafael Alves de Almeida, "Market Dominance in the New Economy," DIREITO GV Law Review 2, no. 2 (July-December 2006): 74.
15. https://www.globalpolicywatch.com/2024/09/ecjs-google-shopping-judgment-the-end-of-a-long-saga/, truy cập ngày 18/09/2025.
16.https://en.wikipedia.org/wiki/Standard_Oil_Co._of_New_Jersey_v._United_States, https://en.wikipedia.org/wiki/Breakup_of_the_Bell_System, https://law.justia.com/cases/federal/appellate-courts/F2/148/416/1503668/, truy cập ngày 12/10/2025.
17. https://law.justia.com/cases/federal/appellate-courts/F3/253/34/576095/, truy cập ngày 12/10/2025.
18. https://law.justia.com/cases/federal/appellate-courts/F2/903/659/435777/, truy cập ngày 12/10/2025.
19. https://supreme.justia.com/cases/federal/us/504/451/, truy cập ngày 12/10/2025.
20. https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=celex:61989TJ0051, truy cập ngày 13/10/2025.
21. https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=celex:61989TJ0065, truy cập ngày 14/10/2025.
22. https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=celex:62004TJ0201, truy cập ngày 14/10/2025.
23. https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=celex:62017TJ0612, truy cập ngày 14/10/2025.
24. https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=oj:JOC_2009_045_R_0007_01, truy cập ngày 15/10/2025.
25. https://eur-lex.europa.eu/eli/dec/1992/553/oj/eng, truy cập ngày 14/10/2025.
26. https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/PDF/?uri=CELEX:62004TJ0201, truy cập ngày 15/10/2025.
27.https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/PDF/?uri=CELEX:52014XC1002(01), truy cập ngày 15/10/2025.
28. UNCTAD (2010), Model Competition Law, https://unctad.org/system/files/official-document/tdrbpconf7d8_en.pdf, truy cập ngày 04 tháng 06 năm 2025.
29. Act on Prohibition of Private Monopolization and Maintenance of Fair Trade (Act No. 54 of April 14, 1947),https://www.jftc.go.jp/en/policy_enforcement/21041301.pdf, truy cập ngày 20/10/2025.
30. JFTC Issues a Cease and Desist Order to Google LLC, https://www.jftc.go.jp/en/pressreleases/yearly-2025/April/250415.html, truy cập ngày 22/10/2025.
[*] Thạc sĩ, Phó Trưởng Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình, nghiên cứu sinh Trường Đại học Luật Hà Nội.
[1] Theo Bảng xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF).
[2] Giáo trình Luật Cạnh tranh, Trường Đại học Kinh tế Luật, 2010.
[3] Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2009, tr660.
[4] Giáo trình Luật Cạnh tranh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Tư pháp, 2024.
[5] Manuel Castells, the informational, global, network economy, 2000, tr77.
[6] POSNER, Richard A. Antitrust Law. 2. ed. USA: The University of Chicago Press, 2001, p. 245-246.
[7] DOSI, Giovanni; TEECE, David J.; CHYTRY, Joseph. Technology, Organization, and Competitiveness, perspectives on industrial and corporate change. UK: Oxford, 1998, p. 1.
[8]https://laodong.vn/thoi-su/thu-tuong-viet-nam-lot-top-16-nen-kinh-te-moi-noi-thanh-cong-nhat-the-gioi-865885.ldo, truy cập ngày 01/10/2025.
[9]https://vtv.vn/kinh-te/viet-nam-lot-top-thi-truong-moi-noi-tang-truong-kinh-te-nhanh-nhat-20240523095728237.htm https://vtv.vn/kinh-te/viet-nam-lot-top-thi-truong-moi-noi-tang-truong-kinh-te-nhanh-nhat-20240523095728237.htm, truy cập ngày 01/10/2025.
[10] Rafael Alves de Almeida, "Market Dominance in the New Economy," DIREITO GV Law Review 2, no. 2 (July-December 2006): 74.
[11] Điều 11, Luật Cạnh tranh 2004.
[12] Khoản 1, Điều 24, Luật Cạnh tranh 2008.
[13] Điều 10, Luật Cạnh tranh 2018.
[14] Quyết định số 26/QĐ-HĐXL ngày 17 tháng 6 năm 2019 về việc xử lý vụ việc cạnh tranh 18 KX HCT 01,
[15] https://vcc.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&id=ec2a1e2c-0a76-4a3b-b7e1-cd0c6758a5e0, truy cập ngày 17/01/2015.
[16] Điều 26, Luật Cạnh tranh 2018; Điều 12, Nghị định 30/NĐ-CP ngày 24 tháng 03 năm 2020 về quy định chi tiết một số Điều của Luật Cạnh tranh 2018.
[17]https://www.globalpolicywatch.com/2024/09/ecjs-google-shopping-judgment-the-end-of-a-long-saga/, truy cập ngày 18/09/2025.
[18]https://en.wikipedia.org/wiki/Standard_Oil_Co._of_New_Jersey_v._United_States, https://en.wikipedia.org/wiki/Breakup_of_the_Bell_System, https://law.justia.com/cases/federal/appellate-courts/F2/148/416/1503668/, truy cập ngày 12/10/2025.
[19] https://law.justia.com/cases/federal/appellate-courts/F3/253/34/576095/, truy cập ngày 12/10/2025.
[20] https://law.justia.com/cases/federal/appellate-courts/F2/903/659/435777/, truy cập ngày 12/10/2025.
[21] https://supreme.justia.com/cases/federal/us/504/451/, truy cập ngày 12/10/2025.
[22] https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=celex:61989TJ0051, truy cập ngày 13/10/2025
[23] https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=celex:61989TJ0065, truy cập ngày 14/10/2025
[24] https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=celex:62004TJ0201, truy cập ngày 14/10/2025
[25] https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=celex:62017TJ0612, truy cập ngày 14/10/2025
[26] https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=oj:JOC_2009_045_R_0007_01, truy cập ngày 15/10/2025.
[27] https://eur-lex.europa.eu/eli/dec/1992/553/oj/eng, truy cập ngày 14/10/2025.
[28] https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/PDF/?uri=CELEX:62004TJ0201, truy cập ngày 15/10/2025.
[29] https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/PDF/?uri=CELEX:52014XC1002(01), truy cập ngày 15/10/2025.
[30] UNCTAD (2010), Model Competition Law, https://unctad.org/system/files/official-document/tdrbpconf7d8_en.pdf, truy cập ngày 04 tháng 06 năm 2025.
[31] Act on Prohibition of Private Monopolization and Maintenance of Fair Trade (Act No. 54 of April 14, 1947), https://www.jftc.go.jp/en/policy_enforcement/21041301.pdf, truy cập ngày 20/10/2025.
[32] Thực tiễn thực thi pháp luật cạnh tranh tại Úc, Nhật Bản và một số lưu ý dành cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia kinh doanh tại các thị trường này, https://vcc.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&category_id=e0904ba0-4694-4595-9f66-dc2df621842a&id=e52f6732-475b-4089-be01-dfb76d3b58fc, truy cập ngày 22/10/2025.
[33] JFTC Issues a Cease and Desist Order to Google LLC, https://www.jftc.go.jp/en/pressreleases/yearly-2025/April/250415.html, truy cập ngày 22/10/2025.
[34] Khoản 1, Điều 11, Luật Cạnh tranh 2004
Nguyễn Thị Thuỷ Tiên*
Link nội dung: https://www.pld.net.vn/cac-tieu-chi-xac-dinh-vi-tri-thong-linh-thi-truong-trong-nen-kinh-te-moi-o-viet-nam-a20347.html