Điểm nứt từ chất lượng tín dụng: Khi nợ nghi ngờ tăng gấp 7 lần
Nhìn vào kết quả kinh doanh hợp nhất quý 1/2026, ngân hàng này vẫn duy trì vị thế "anh cả" với mức tăng trưởng thu nhập lãi thuần tốt (đạt 17.651 tỷ đồng). Tuy nhiên, chất lượng tài sản lại cho thấy xu hướng suy giảm nhanh chóng khi tốc độ dịch chuyển nhóm nợ xấu diễn ra bất thường.
Tại thời điểm 31/12/2025, nợ nghi ngờ của ngân hàng chỉ ở mức 222,6 tỷ đồng. Nhưng chỉ sau 3 tháng đầu năm 2026, con số này đã nhảy vọt lên 1.586,2 tỷ đồng – tức là tăng trưởng 612,5% (gấp hơn 7 lần).
Nợ cần chú ý (nhóm 2) tăng từ 2.704 tỷ đồng lên 4.040,5 tỷ đồng (tăng 49,4%); nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) tăng từ 760,5 tỷ đồng lên 971,5 tỷ đồng (tăng 27,7%).
Sự suy giảm đồng loạt ở các nhóm nợ rủi ro phía trên cho thấy một lượng lớn dòng vốn cho vay đang mất khả năng kiểm soát tiến độ thu hồi, buộc ngân hàng này phải tăng mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng lên 2.493 tỷ đồng (gấp hơn 3,3 lần so với mức 752 tỷ đồng của cùng kỳ năm trước), trực tiếp bào mòn biên lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh.
Biến động các nhóm nợ rủi ro của ngân hàng (Q1/2026)
| Nhóm nợ | Thời điểm 31/12/2025 (Triệu VND) | Thời điểm 31/3/2026 (Triệu VND) | Mức tăng trưởng (%) |
| Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) | 2.704.636 | 4.040.490 | +49,4% |
| Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) | 760.561 | 971.540 | +27,7% |
| Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) | 222.632 | 1.586.227 | +612,5% |
Lỗ hổng quản trị tại chi nhánh: Câu trả lời cho nợ xấu?
Những con số bất thường về nợ xấu trên báo cáo tài chính hợp nhất không tự nhiên sinh ra. Các kết luận thanh tra liên tiếp từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tại hàng loạt chi nhánh lớn của ngân hàng này cuối năm 2025 và đầu năm 2026 đã phần nào bóc tách nguyên nhân cốt lõi: Sự lỏng lẻo mang tính hệ thống trong quy trình cấp tín dụng.
Tại chi nhánh Quảng Trị (Kết luận thanh tra số 122/KL-TT ngày 21/11/2025) cơ quan thanh tra chỉ rõ chi nhánh này có nhiều sai phạm liên quan đến nghiệp vụ cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân. Công tác thẩm định, xét duyệt và quản lý khoản vay thiếu chặt chẽ; các khách hàng cá nhân vay vốn có mối quan hệ liên quan qua lại nhưng đơn vị chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng minh mục đích sử dụng vốn hợp pháp.
Tại Bình Thuận (Kết luận số 128/KL-TTra ngày 18/3/2026) thanh tra NHNN KV10 đã đưa ra tới 12 kiến nghị và 4 khuyến nghị chấn chỉnh sau khi phát hiện hàng loạt lỗ hổng từ khâu phê duyệt phương án sử dụng vốn, hồ sơ vay vốn, giải ngân cho đến công tác hậu kiểm, đánh giá lại tài sản bảo đảm và xử lý nợ có vấn đề.
Chi nhánh Bắc Bình Dương (Kết luận thanh tra số 38/KL-TTRA.BD cuối năm 2025) chỉ ra tình trạng tương tự diễn ra khi cán bộ tín dụng thiếu biện pháp quản lý, giám sát dòng tiền sau cho vay, lơ là khâu thu thập chứng từ chứng minh nội dung thẩm định giao dịch.
Nghịch lý dòng tiền interbank và “bức tường thành” Kho bạc Nhà nước
Bên cạnh câu chuyện nợ xấu, cấu trúc tài sản tài chính của ngân hàng trong Q1/2026 cũng ghi nhận một nghịch lý lớn trong việc điều hòa thanh khoản.
Tiền gửi của ngân hàng này tại Ngân hàng Nhà nước đã giảm mạnh từ 37.445 tỷ đồng xuống còn 17.957 tỷ đồng (giảm 52%). Thay vì để dòng tiền tối ưu tại ngân hàng trung ương hoặc giải ngân mạnh vào nền kinh tế (cho vay khách hàng chỉ tăng trưởng vừa phải ở mức 4,8%), ngân hàng này lại chọn giải pháp đẩy mạnh dòng vốn lên thị trường liên ngân hàng (interbank). Chỉ trong 3 tháng, khoản mục “Tiền gửi tại và cho vay các tổ chức tín dụng khác” của ngân hàng đã vọt tăng gần 59.000 tỷ đồng, đạt mức 581.521 tỷ đồng.
Vậy ngân hàng này lấy đâu ra nguồn lực lớn như vậy để đóng vai trò "chủ nợ" của hệ thống liên ngân hàng trong bối cảnh tiền gửi của khách hàng thông thường chỉ tăng trưởng nhỏ giọt 0,56% (từ 1,672 triệu tỷ lên 1,682 triệu tỷ đồng)?
Câu trả lời nằm ở mối quan hệ đặc biệt với cơ quan quản lý ngân sách.
Báo cáo tài chính thuyết minh cho thấy, cơ quan quản lý ngân sách hiện là nơi cấp vốn lớn nhất cho ngân hàng này. Tính đến ngày 31/3/2026, lượng tiền gửi thanh toán của cơ quan quản lý ngân sách tại ngân hàng này đã tăng từ 136.001 tỷ đồng lên mức kỷ lục 189.159 tỷ đồng (tăng thêm hơn 53.150 tỷ đồng chỉ trong 1 quý). Trong đó, có tới 185.250 tỷ đồng là tiền gửi có kỳ hạn bằng VND.
Nguồn vốn này mang tính thời vụ này từ cơ quan quản lý ngân sách chính là bệ đỡ giúp ngân hàng bù đắp lượng sụt giảm tiền gửi tại NHNN, giảm thiểu nghĩa vụ vay mượn từ các định chế tài chính khác, đồng thời có đủ dư địa để đem dòng tiền đi tối ưu hóa lợi nhuận trên thị trường liên ngân hàng.
Định vị bản đồ "Chủ nợ" và "Con nợ" chiến lược
Để có cái nhìn tổng quan về hệ sinh thái tài chính và các định chế đang gắn chặt quyền lợi kinh tế với ngân hàng này tại thời điểm kết thúc quý 1/2026, cấu trúc chủ nợ và con nợ lớn của ngân hàng được phác thảo rõ nét như sau.
Nhóm chủ nợ bao gồm: Khách hàng đại chúng (Cá nhân & Tổ chức kinh tế): Vẫn là nền tảng tiền gửi lớn nhất với 1.682.032 tỷ đồng (chiếm phần lớn cấu trúc nợ phải trả). Cơ quan quản lý ngân sách: Nắm giữ 189.159 tỷ đồng tiền gửi thanh toán và tiền gửi có kỳ hạn, kèm theo khoản vay trực tiếp trị giá 356,6 tỷ đồng. Các Tổ chức tín dụng khác (Thị trường interbank): Gửi và cho ngân hàng này vay tổng cộng 367.184 tỷ đồng (trong đó tiền gửi của các TCTD khác chiếm 353.226 tỷ đồng, vay trực tiếp 13.958 tỷ đồng). Cơ quan quản lý về tiền tệ: ngân hàng đang vay từ cơ quan này khoản tiền 9.470 tỷ đồng (chủ yếu dưới hình thức vay cầm cố giấy tờ có giá).
Nhóm vay nợ của ngân hàng gồm: Cá nhân và Tổ chức kinh tế trong nước: Tổng dư nợ cho vay khách hàng đạt 1.754.926 tỷ đồng (trước dự phòng), bên cạnh mảng cho thuê tài chính đạt 8.184 tỷ đồng. Hệ thống các Tổ chức tín dụng trong và ngoài nước: ngân hàng này đang cho vay và gửi tiền tại các ngân hàng khác với con số khổng lồ 581.522 tỷ đồng. Cơ quan quản lý về tiền tệ: ngân hàng này duy trì lượng tiền gửi dự trữ và tiền gửi thanh toán tại đây là 17.719 tỷ đồng. Chính phủ và các tổ chức phát hành trái phiếu: ngân hàng sở hữu danh mục chứng khoán nợ lớn gồm 75.679 tỷ đồng Trái phiếu Chính phủ (ở cả danh mục kinh doanh và đầu tư) cùng hàng chục nghìn tỷ đồng trái phiếu do các TCTD khác phát hành.
Bức tranh tài chính quý 1/2026 của ngân hàng mang hai sắc thái đối lập, một bên là vị thế thanh khoản dồi dào được bảo chứng bởi dòng vốn điều hòa từ cơ quan quản lý ngân sách, nhưng bên còn lại là hồi chuông cảnh báo về rủi ro tín dụng khi nợ rủi ro cao (nhóm 4) bộc lộ đà tăng bất thường. Khi các biên bản thanh tra chi nhánh liên tục chỉ ra những lỗ hổng trong khâu kiểm soát mục đích sử dụng vốn, ngân hàng này rõ ràng cần nhìn nhận lại bài toán quản trị hệ thống nếu không muốn những thành quả lợi nhuận bị nợ xấu trong tương lai ăn mòn.
Hoàng Ngân
Link nội dung: https://www.pld.net.vn/phia-sau-buc-tranh-loi-nhuan-cua-mot-ngan-hang-la-no-nghi-ngo-tang-612-a20909.html