Quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài – kinh nghiệm từ Hoa Kỳ, Singapore và gợi mở cho Việt Nam

Quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài góp phần giảm rủi ro pháp lý, nâng cao sức cạnh tranh. Kinh nghiệm Hoa Kỳ, Singapore gợi mở hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

Tóm tắt: Về cơ bản, quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài (TCTT) là việc TCTT, nhân sự của TCTT không phải chịu trách nhiệm dân sự đối với hành vi hoặc thiếu sót trong quá trình quản lý tố tụng trọng tài. Đây là một trong những cơ chế quan trọng giúp bảo đảm tính chung thẩm của phán quyết trọng tài, giảm thiểu rủi ro pháp lý, chi phí vận hành của TCTT, đồng thời góp phần tăng uy tín và sức cạnh tranh quốc tế. Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đổi mới tư duy thông qua Nghị quyết số 68-NQ/TW, việc hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC) và xây dựng khung pháp lý về trọng tài hiện đại, tiệm cận thông lệ quốc tế là nhu cầu cấp thiết để tiếp tục phát triển kinh tế. Tuy nhiên, pháp luật trọng tài Việt Nam chưa chính thức ghi nhận quyền miễn trừ của TCTT - một trong những điều khoản tiên tiến được một số quốc gia trên thế giới sử dụng để thu hút các bên tranh chấp. Bài viết tập trung xem xét khung lý thuyết về quyền miễn trừ của TCTT, nghiên cứu kinh nghiệm tại Hoa Kỳ và Singapore - hai quốc gia Thông Luật có nền trọng tài phát triển bậc nhất, qua đó gợi mở hướng nghiên cứu, áp dụng quy định này tại Việt Nam.
Từ khóa: Quyền miễn trừ, tổ chức trọng tài, Trọng tài thương mại, Việt Nam.
Abstract: In essence, immunity of arbitral institutions refers to the legal protection afforded to arbitral institutions and their personnel against civil liability for acts or omissions arising from the administration of arbitral proceedings. Such immunity serves to safeguard the finality and integrity of arbitral awards, mitigate litigation risks and operational burdens faced by arbitral institutions, and ultimately strengthen their credibility, efficiency, and competitiveness in the global dispute resolution market. In the context of Vietnam’s ongoing shift in legal and economic governance, as reflected in Resolution No. 68-NQ/TW of the Communist Party of Vietnam, and the establishment of an International Financial Centre (IFC), the development of a modern arbitration framework aligned with international best practices has become an increasingly pressing necessity for sustaining economic growth. Nevertheless, Vietnamese arbitration law has yet to formally recognize the civil immunity of arbitral institutions - a progressive legal mechanism adopted in several jurisdictions to enhance the attractiveness of arbitration and encourage disputing parties to select particular arbitral seats or institutions. For these reasons, this article examines the theoretical foundations of arbitral institution immunity and analyzes the legal frameworks of the United States and Singapore, two leading common-law jurisdictions with highly developed arbitration systems, to offer insights into the potential research and implementation of such a mechanism within the Vietnamese legal framework.
Keywords: Immunity right, arbitral institution, commercial arbitration, Vietnam

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, trọng tài thương mại ngày càng khẳng định tính ưu việt của phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) này nhờ sự linh hoạt, tính bảo mật cao, tính chung thẩm, tiết kiệm thời gian và chi phí. Tuy nhiên, sự phát triển của trọng tài cũng đặt ra nhu cầu về bảo đảm tính chung thẩm, độc lập và khách quan của tố tụng trọng tài; hạn chế rủi ro pháp lý đối với các chủ thể, trong đó có các tổ chức trọng tài (TCTT) trong quá quản lý và hỗ trợ tố tụng. Xuất phát từ nhu cầu đó, nhiều quốc gia có nền trọng tài phát triển đã xây dựng quy định về quyền miễn trừ trọng tài (“arbitral immunity”), bao gồm quyền miễn trừ trách nhiệm dân sự cho các TCTT. Quy định này cũng được áp dụng như một thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm trong quy tắc trọng tài của các TCTT lớn trên thế giới, như Hoa Kỳ và Singapore.

Mặc dù quyền miễn trừ đối với TCTT (về lý thuyết nền tảng và quy định) đã được đề cập và phân tích trong các nghiên cứu quốc tế, nhưng Việt Nam chưa có một nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này. Đồng thời, hệ thống pháp luật hiện hành tại Việt Nam cũng chưa quy định trực tiếp về quyền miễn trừ trách nhiệm dân sự đối với TCTT, dẫn đến khoảng trống trong việc xác định phạm vi trách nhiệm pháp lý của TCTT, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến tính chung thẩm, độc lập và hiệu quả của tố tụng trọng tài. Trong khi đó, quyền miễn trừ đối với TCTT đã được thừa nhận tại nhiều quốc gia có nền trọng tài phát triển như Hoa Kỳ và Singapore nhằm bảo đảm tính độc lập của thiết chế này và tạo dựng môi trường giải quyết tranh chấp ổn định. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và giải pháp hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại tại Việt Nam dưới góc độ quyền miễn trừ của TCTT là cần thiết, giúp đảm bảo tính khách quan, độc lập, giảm rủi ro pháp lý của TCTT khi thực hiện các chức năng hành chính, từ đó thúc đẩy sự phát triển và hội nhập của trọng tài thương mại tại Việt Nam trong bối cảnh sửa đổi Luật Trọng tài thương mại và sự ra đời của Trung tâm tài chính Quốc tế.

Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận về quyền miễn trừ của TCTT, xem xét kinh nghiệm áp dụng quyền miễn trừ của TCTT trong pháp luật và quy tắc trọng tài của các TCTT nổi bật tại Hoa Kỳ và Singapore, bài viết giúp trả lời câu hỏi về sự cần thiết của việc xây dựng quy định quyền miễn trừ đối với TCTT tại Việt Nam và phạm vi, điều kiện áp dụng quy định này để (i) phù hợp với bối cảnh và quy định pháp luật Việt Nam; (ii) bảo đảm tính độc lập của thiết chế trọng tài và (iii) không làm suy giảm trách nhiệm pháp lý của TCTT. Trong bối cảnh trên, nhóm tác giả cho rằng Việt Nam cần nghiên cứu và từng bước tiếp nhận chế định quyền miễn trừ trách nhiệm dân sự đối với TCTT trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Hoa Kỳ và Singapore. Tuy nhiên, việc ghi nhận quyền miễn trừ cần được thiết kế theo hướng thận trọng, có giới hạn và có thể triển khai theo lộ trình hoặc cơ chế thí điểm trước khi áp dụng trên phạm vi lớn.

1. Những vấn đề lý luận về quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài

1.1. Khái niệm quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài

Theo G.Asken, tổ chức trọng tài (“arbitral institution”) là một tổ chức được thành lập để giám sát và quản lý hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại[1] theo quy tắc tố tụng trọng tài của chính tổ chức đó và theo pháp luật có liên quan. Các TCTT thường là các tổ chức tư nhân, phi chính phủ và được thành lập với mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể trong quan hệ kinh doanh, thương mại quốc tế.

Theo từ điển Black's Law, sự miễn trừ có thể được hiểu như “miễn khỏi việc giữ chức vụ hoặc thực hiện các nhiệm vụ mà pháp luật thường yêu cầu các công dân khác phải thực hiện”[2]. Khi một người được hưởng quyền miễn trừ, điều đó có nghĩa là người đó được miễn khỏi một yêu cầu hoặc hậu quả pháp lý[3]. Về mặt pháp lý, quyền miễn trừ (“immunity”) được hiểu là sự bảo vệ pháp lý giúp một người hoặc một chủ thể (như tổ chức, quốc gia) không phải chịu trách nhiệm, hình phạt hoặc biện pháp xử lý (như hành vi cưỡng chế, khiếu kiện, xử phạt vi phạm hành chính) đáng lẽ phải áp dụng lên chủ thể đó.

Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp thay thế, quyền miễn trừ đối với TCTT được hiểu là quyền pháp lý cho phép TCTT và những chủ thể liên quan không phải chịu trách nhiệm dân sự đối với các hành vi hoặc thiếu sót phát sinh trong quá trình quản lý tố tụng trọng tài[4], trừ một số trường hợp ngoại lệ như hành vi sai phạm một cách cố ý, gian lận hoặc vi phạm nghiêm trọng theo pháp luật áp dụng[5]. Trong thực tiễn trọng tài quốc tế, quyền miễn trừ này thường phát sinh từ quy tắc trọng tài của TCTT và được củng cố bởi pháp luật quốc gia[6].

1.2. Cách tiếp cận quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài

Theo Elizabeth Wilhelmi, quyền miễn trừ của TCTT bắt nguồn từ việc coi chức năng quản lý hành chính của TCTT là một phần của quá trình tố tụng trọng tài[7]. TCTT đóng vai trò tổ chức, điều phối, hỗ trợ các bên và trọng tài viên trong quá trình tố tụng trọng tài[8]. Dưới góc độ lý thuyết, quan điểm về quyền miễn trừ của trọng tài viên xoay quanh ba thuyết: thuyết hợp đồng, thuyết thẩm quyền và thuyết hỗn hợp.

Thứ nhất, thuyết hợp đồng (“contractual theory”) xây dựng lập luận dựa trên lý lẽ trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận trọng tài, với bản chất là một hợp đồng, vì vậy, pháp luật quốc gia không đóng bất cứ vai trò nào trong tố tụng trọng tài[9]. Về bản chất, thỏa thuận trọng tài, là một hợp đồng được giao kết giữa các bên ký kết, vì vậy, chỉ các bên ký kết mới bị ràng buộc bởi điều khoản này. Theo Emilia, hành vi khởi kiện tranh chấp tại TCTT của các bên đã làm phát sinh hai quan hệ hợp đồng: (i) giữa các bên – các trọng tài viên, và (ii) giữa các bên – TCTT nhằm hiện thức hóa nội dung đã thỏa thuận tại điều khoản trọng tài.[10] Trong mối quan hệ giữa các bên và TCTT, thông thường, khi các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một TCTT, các bên mặc định chấp thuận việc áp dụng quy tắc trọng tài của tổ chức đó, bao gồm cả điều khoản về miễn trừ trách nhiệm đối với TCTT. Việc thỏa thuận áp dụng quy tắc của một TCTT khác có thể khiến đơn khởi kiện bị từ chối thụ lý[11], hoặc tạo nên thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được[12][13].

Thứ hai, thuyết thẩm quyền (“jurisdictional theory”) trao quyền cho trọng tài viên và TCTT dựa trên chức năng xét xử. Thuyết thẩm quyền dựa trên tiền đề rằng trọng tài viên thực hiện các chức năng tư pháp như một thẩm phán thay thế, (“alternative judge”) được pháp luật quốc gia cho phép trong một khu vực lãnh thổ nhất định [14]. Điều này trái ngược với thuyết hợp đồng khi quyền miễn trừ trong thuyết thẩm quyền luôn gắn với pháp luật của quốc gia[15]. Học thuyết về miễn trừ tư pháp (“judicial immunity”) cho rằng quy định này là cần thiết để bảo vệ lợi ích công thông qua việc đảm bảo sự độc lập của Thẩm phán bằng việc cấm các bên khởi kiện dân sự chống lại Thẩm phán đối với các quyết định và hành vi tư pháp của họ trong quá trình tố tụng[16]. Tuy nhiên, quyền miễn trừ không phải quyền tuyệt đối, Thẩm phán vẫn phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình khi thực hiện hành vi phi tư pháp (“non-judicial act”), hoặc trong trường hợp hoàn toàn không có thẩm quyền (“clear absence of all jurisdiction”)[17]. Trong thực tiễn, học thuyết miễn trừ tư pháp sau đó được mở rộng sang một số chủ thể khác, bao gồm các trọng tài viên. Thẩm phán trong vụ Forrester v. White lập luận rằng quyền miễn trừ tuyệt đối được “biện minh và định nghĩa bởi chức năng mà nó bảo vệ và thực hiện, chứ không phải cá nhân được hưởng quyền đó”[18]. Trên cơ sở đó, thẩm phán lập luận học thuyết miễn trừ tư pháp có thể mở rộng áp dụng đối với các TCTT, bởi suy cho cùng, trọng tài viên hoạt động dưới sự quản lý của TCTT[19]. Vai trò của TCTT nhìn chung là các công việc mang tính hành chính, thông qua các dịch vụ như chỉ định, xác nhận, loại bỏ và thay đổi trọng tài viên, giải quyết yêu cầu thay đổi trọng tài viên, xem xét chi phí trọng tài, và quản lý các vấn đề hậu cần và các vấn đề liên quan khác[20]. Bên cạnh đó, chức năng hành chính này còn được thể hiện thông qua quy trình rà soát phán quyết, được coi là một nhiệm vụ bán tư pháp (“quasi-judicial task”)[21]. Như vậy, các chức năng hành chính của TCTT đã kiểm soát quá trình trọng tài từ giai đoạn bắt đầu tố tụng đến khi ban hành phán quyết[22], bao gồm những nhiệm vụ bán tư pháp, vì vậy, TCTT được hưởng quyền miễn trừ do là chủ thể thực hiện chức năng bán tư pháp[23].

Thứ ba, thuyết hỗn hợp (“hybrid theory”) là sự kết hợp của thuyết hợp đồng và thuyết thẩm quyền, theo đó, mặc dù tố tụng trọng tài bắt nguồn từ một thỏa thuận trọng tài mang bản chất hợp đồng, nhưng quá trình tố tụng vẫn phải tuân thủ các quy định của pháp luật quốc gia, bởi trọng tài quốc tế không thể hoàn toàn tách rời khỏi hệ thống pháp luật[24]. Nhìn chung, các học giả ủng hộ thuyết này cho rằng hiệu lực của thỏa thuận trọng tài được xác định bởi các tiêu chuẩn chung, trong khi thủ tục trọng tài lại chịu sự điều chỉnh theo các nguyên tắc pháp luật của các quốc gia là địa điểm giải quyết tranh chấp hoặc nơi thi hành phán quyết. Mặc dù giải quyết được điểm yếu của thuyết hợp đồng, song thuyết hỗn hợp không đề cập đến vai trò và sự tác động của TCTT đến tố tụng trọng tài, dù TCTT là yếu tố có thể khiến một vụ việc trọng tài quốc tế trở nên độc lập tuyệt đối (“completely autonomous”) hoặc độc lập một phần (“semi-autonomous”), đồng thời hạn chế dẫn chiếu đến pháp luật quốc gia. Tuy nhiên, hiện tại vai trò của tổ chức chưa thể thay đổi quan điểm của các học giả ủng hộ thuyết hỗn hợp[25].

Theo quan điểm của nhóm tác giả, thuyết hỗn hợp là cơ sở lý luận tương đối hoàn chỉnh được áp dụng để xem xét quyền miễn trừ của TCTT, mặc dù thuyết hỗn hợp không trực tiếp công nhận quyền miễn trừ của TCTT. Đây là học thuyết cân bằng giữa nguyên tắc thỏa thuận của các bên (“party autonomy”) - một nguyên tắc quan trọng trong pháp luật về dân sự theo nghĩa rộng, đồng thời đảm bảo sự thỏa thuận đó phải phù hợp với pháp luật quốc gia nơi có mối quan hệ gắn bó với quan hệ pháp luật. Nội dung của quy tắc trọng tài, theo thuyết hợp đồng, là một phần của thỏa thuận giữa TCTT và các bên tranh chấp, vì vậy, hiệu lực của chúng cũng được xác định dựa trên pháp luật quốc gia nơi công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài. Điều này xuất phát từ việc nội dung của quy tắc trọng tài, đặc biệt là nội dung về quyền miễn trừ hoặc giới hạn trách nhiệm trong quy tắc trọng tài, ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của các bên. Với lý do trên, trong bài viết này, nhóm tác giả nghiên cứu về quyền miễn trừ trách nhiệm dưới góc độ thỏa thuận trong quy tắc trọng tài và pháp luật quốc gia nơi TCTT có trụ sở.

1.3. Ý nghĩa của quyền miễn trừ đối với tổ chức trọng tài

Quyền miễn trừ của TCTT mang ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy các ưu điểm của trọng tài, đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ hành chính bán tư pháp của TCTT, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của phương thức giải quyết tranh chấp này trong phạm vi khu vực và quốc tế.

Thứ nhất, quyền miễn trừ góp phần duy trì các ưu điểm của tố tụng trọng tài như tính chung thẩm và hiệu lực của phán quyết trọng tài (“finality of awards”). Bằng cách hạn chế kiện tụng dân sự để "mở lại" tranh chấp đã giải quyết, quyền miễn trừ giúp củng cố uy tín của trọng tài như phương thức thay thế hiệu quả cho tòa án[26], đồng thời hạn chế việc các bên tranh chấp sử dụng kiện tụng để gây áp lực hoặc trì hoãn việc thực thi phán quyết trọng tài. Nếu một TCTT bị kiện vì sơ suất thủ tục, các bên có thể lạm dụng để trì hoãn thi hành phán quyết, làm suy yếu lợi thế cốt lõi của trọng tài, bao gồm tính nhanh chóng, bí mật (“confidentiality”) và chung thẩm (“finality”)[27][28]. Đồng thời, các sai sót của TCTT trong quá trình quản lý tố tụng được kiểm soát bằng thủ tục kháng cáo hoặc yêu cầu hủy bỏ phán quyết theo thủ tục dân sự tại các tòa án quốc gia, không cần đến hành động pháp lý như khởi kiện dân sự chống lại TCTT.

Thứ hai, quyền này bảo vệ tính độc lập, trung lập và chuyên nghiệp của TCTT khi thực hiện các chức năng quản lý tố tụng. Không có quyền miễn trừ, tổ chức có thể bị ảnh hưởng bởi các vụ kiện từ các bên thất bại, đặc biệt trong tranh chấp liên quan đến Nhà nước hoặc các bên có ảnh hưởng lớn, dẫn đến can thiệp bên ngoài[29]. Tương tự như lý do miễn trừ ngoại giao cho tổ chức quốc tế, quyền miễn trừ ngăn chặn sự "trả đũa" pháp lý và đảm bảo TCTT thực hiện vai trò trung lập, bao gồm vai trò hành chính mang tính bán tư pháp của mình theo học thuyết thẩm quyền.

Thứ ba, quyền miễn trừ giúp các TCTT duy trì sự chuyên nghiệp, đồng thời góp phần phát triển của trọng tài quốc tế. Các TCTT là tổ chức tư nhân cung cấp dịch vụ pháp lý đặc thù, do đó, việc xây dựng danh tiếng là yếu tố quan trọng trong quá trình kinh doanh dịch vụ quản lý tố tụng trọng tài. Nếu không có sự bảo vệ pháp lý, TCTT có nguy cơ đối mặt với rủi ro pháp lý, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của TCTT và tính hấp dẫn của trọng tài thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, nếu không có ưu thế về quyền miễn trừ, TCTT có thể phải nâng mức phí cao để bù đắp chi phí rủi ro trong quá trình hoạt động, như việc bị các bên khởi kiện dân sự tại Tòa án. Dưới góc nhìn của mô hình thị trường (“market-based model”), quyền miễn trừ của TCTT góp phần giảm chi phí trọng tài, thúc đẩy việc sử dụng trọng tài do tôn trọng sự tự quyết của các bên[30]. Như vậy, trên bình diện rộng, quyền miễn trừ góp phần thúc đẩy sự phát triển của trọng tài thương mại, tạo môi trường pháp lý ổn định, thu hút đầu tư và thương mại xuyên biên giới bằng cách giảm rủi ro pháp lý không đáng có[31].

2. Quy định về quyền miễn trừ đối với tổ chức trọng tài tại Hoa Kỳ và Singapore

2.1. Quy định về quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài tại Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là quốc gia góp phần hình thành và hoàn thiện học thuyết quyền miễn trừ được áp dụng rộng rãi. Với hệ thống án lệ phức tạp, dày dặn và uy tín lâu đời của Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (“American Arbitration Association”), kinh nghiệm thực tiễn từ quốc gia này mang lại giá trị quan trọng, giúp định hướng phát triển trọng tài tại Việt Nam tiệm cận với các quy chuẩn quốc tế.

2.1.1. Quy định về quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ

Mặc dù là quốc gia ủng hộ mạnh mẽ học thuyết miễn trừ trách nhiệm dân sự đối với hành vi của TCTT trong phạm vi thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp, Hoa Kỳ không ghi nhận bất kỳ điều khoản nào về quyền miễn trừ hay giới hạn trách nhiệm của chủ thể này trong Đạo luật Trọng tài Liên bang năm 1925[32]. Học thuyết này chủ yếu được thể hiện qua một số án lệ nổi bật trong hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ, qua đó thể hiện xu hướng ủng hộ quyền miễn trừ của TCTT.

Tiền lệ về quyền miễn trừ của TCTT đã xuất hiện rất sớm trong vụ Corey v. Sở Giao dịch Chứng khoán New York[33][34]. Trong vụ kiện này, Tòa án đã ra quyết định trọng tài viên có quyền miễn trừ dựa trên “bài kiểm tra so sánh chức năng” (“functional comparability test”). Tòa án cho rằng quá trình quyết định và ra phán quyết của trọng tài viên có nét tương đồng với Thẩm phán và các giám định viên của cơ quan hành chính dựa trên nhu cầu về sự độc lập trong quá trình ra quyết định. Thẩm phán Kennedy cũng lập luận rằng việc mở rộng quyền miễn trừ đến các TCTT là “lẽ tự nhiên và tất yếu của các chính sách nền tảng của quyền miễn trừ trọng tài, bởi nếu thiếu quyền miễn trừ cho TCTT thì quyền miễn trừ dành cho các trọng tài viên sẽ chỉ là ảo tưởng”. Tác giả nhận định phán quyết này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là một trong những tiền lệ để mở rộng quyền miễn trừ tư pháp của trọng tài viên đến TCTT. Việc Tòa án sử dụng “bài kiểm tra so sánh chức năng” cho thấy cơ sở lý luận của Thẩm phán trong vụ việc này xuất phát từ bản chất chức năng của TCTT. Lập luận của Thẩm phán Kennedy cho thấy việc quy định về quyền miễn trừ đối với TCTT nhằm bao quát những điểm yếu bị bỏ ngỏ, có thể bị các bên tranh chấp “tấn công” để đạt được mục đích hủy phán quyết trọng tài, như hành vi của Corey trong vụ kiện.

Nội dung về quyền miễn trừ của TCTT tiếp tục được củng cố và mở rộng trong vụ Ernest D. Olson kiện Hiệp hội nhà giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ (NASD) tại Tòa Phúc thẩm Khu vực Tám[35][36]. Dựa trên chức năng của trọng tài viên và TCTT, các Thẩm phán lập luận rằng “chỉ định trọng tài viên là một phần cần thiết của quản lý hành chính các vụ trọng tài, vì vậy, nó được bảo vệ bởi quyền miễn trừ trọng tài”, “một TCTT được hưởng quyền miễn trừ dân sự đối với việc lựa chọn Hội đồng trọng tài vi phạm quy tắc của chính tổ chức đó”. Hoạt động chỉ định trọng tài viên của TCTT đáng được hưởng quyền miễn trừ bởi nó là chức năng cần thiết và có liên quan trực tiếp đến quá trình tiến hành tố tụng trọng tài[37]. Lập luận then chốt của các Thẩm phán về quyền miễn trừ của TCTT dựa trên tính liên kết giữa hoạt động quản lý tố tụng của TCTT và quy trình tố tụng trọng tài. Trong đó, vì quy trình quản lý tố tụng có quan hệ mật thiết, tác động trực tiếp đến quy trình tố tụng trọng tài, nên TCTT đáng được hưởng quyền miễn trừ tương ứng với trọng tài viên. Nhóm tác giả nhận định, lập luận này của Thẩm phán là phù hợp để các TCTT xây dựng quyền miễn trừ trong quy tắc tố tụng của họ, tránh trường hợp các bên khởi kiện nhằm thực hiện mục đích hủy phán quyết trọng tài.

Như vậy, mặc dù không được cụ thể hóa trong pháp luật thực định, quyền miễn trừ của TCTT tại Hoa Kỳ vẫn được khẳng định vững chắc thông qua hệ thống án lệ, đã thừa nhận một sự mở rộng tự nhiên và cần thiết từ quyền miễn trừ của trọng tài viên, qua đó giúp TCTT được bảo vệ khỏi rủi ro pháp lý trong quá trình thực hiện chức năng quản lý tố tụng.

2.2. Quy định về quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài tại Quy tắc trọng tài của Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ

Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (AAA) quy định về quyền miễn trừ trong Quy tắc Trọng tài thương mại và thủ tục hòa giải năm 2022. Theo đó, Điều 54 quy định:

d) Các bên thực hiện thủ tục trọng tài theo Quy tắc này được coi là đồng ý rằng AAA không phải chịu trách nhiệm với bất cứ bên nào về bất kỳ vụ việc nào về thiệt hại, lệnh hay chỉ thị, hoặc các biện pháp khắc phục khác, đối bất kỳ hành động hoặc không hành động nào liên quan đến bất kỳ vụ trọng tài nào do AAA quản lý toàn bộ hoặc một phần, hoặc được tiến hành theo Quy tắc này.

e) Các bên thực hiện thủ tục trọng tài theo Quy tắc này không được phép triệu tập trọng tài viên, AAA, hoặc các nhân viên của AAA làm nhân chứng trong tố tụng hoặc bất kỳ thủ tục nào khác liên quan đến vụ trọng tài đó. Trọng tài viên, AAA và nhân viên của AAA không có quyền làm chứng trong bất kỳ thủ tục tố tụng nào như vậy.

Điều khoản này của AAA đã thể hiện rõ mối quan hệ mang bản chất hợp đồng giữa AAA và các bên tranh chấp. Điều 54 Quy tắc của AAA đã quy định về hai khía cạnh cụ thể của quyền miễn trừ dành cho AAA: (i) không bị khởi kiện; và (ii) không trở thành nhân chứng. Quy định này đã bao quát toàn bộ phạm vi trách nhiệm trong quá trình quản lý tố tụng. Việc đồng thuận rằng AAA không phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào đồng nghĩa với việc các bên tranh chấp từ bỏ quyền khởi kiện AAA do những sai sót, bất cẩn trong quá trình quản lý vụ việc, dù những sai sót đó có thể gây thiệt hại cho các bên. Đồng thời, theo Romain, Điều 54 có mục đích đảm bảo tính bí mật của quá trình tố tụng trọng tài[38], bởi trong quá trình quản lý vụ kiện, thành viên của TCTT có quyền tiếp xúc với các nội dung trao đổi của Hội đồng Trọng tài, điều này tiềm ẩn rủi ro không đảm bảo tính bảo mật trong quá trình giải quyết tranh chấp, vốn là nguyên tắc của tố tụng trọng tài[39].

Bên cạnh đó, AAA đã thiết lập quyền miễn trừ tuyệt đối dành cho TCTT, thể hiện qua việc không ghi nhận bất kỳ trường hợp ngoại lệ nào cho phép các bên được khởi kiện AAA tại Tòa án quốc gia. Cách tiếp cận này có điểm khác biệt với quy tắc của nhiều TCTT lớn trên thế giới, trong đó có Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC), sẽ được phân tích kỹ hơn tại phần sau.

2.2. Quy định về quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài tại Singapore

Singapore là quốc gia có môi trường pháp lý thân thiện, được nhiều doanh nghiệp lựa chọn làm địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Quy định pháp luật của Singapore và Bộ quy tắc của SIAC (“SIAC Rules”) cung cấp những giá trị tham khảo quan trọng cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện quy định về quyền miễn trừ tư pháp đối với TCTT.

2.2.1. Quy định về quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài trong hệ thống pháp luật Singapore

Hướng tiếp cận quyền miễn trừ của TCTT của Singapore thể hiện rõ việc áp dụng học thuyết hợp đồng và học thuyết lai trong hệ thống tư pháp. Có thể đánh giá pháp luật Singapore có xu hướng khá cấp tiến, tôn trọng các thỏa thuận trọng tài; tăng cường tối đa sự hỗ trợ cho các TCTT trong nước và quốc tế bằng cách ghi nhận trực tiếp quyền miễn trừ của các TCTT tại Đạo luật Trọng tài Quốc tế (International Arbitration Act 1994 - IAA) và Đạo luật Trọng tài (Arbitration Act 2001 - AA). Hai quy định trên đều được xây dựng dựa trên Luật Mẫu, với một số sửa đổi về việc bổ sung một số cơ chế, trong đó bao gồm quyền miễn trừ đối với TCTT[40]. Các quy định này được áp dụng cho mọi TCTT hoạt động tại Singapore.

Đối với trọng tài quốc tế, Điều 25 IAA 1994 quy định:

(1) Cơ quan bổ nhiệm, hoặc TCTT hoặc tổ chức hoặc cá nhân khác được các bên chỉ định hoặc yêu cầu bổ nhiệm hoặc đề cử trọng tài viên, sẽ không chịu trách nhiệm về bất cứ điều gì đã làm hoặc bỏ sót trong quá trình thực hiện hoặc được cho là thực hiện chức năng đó, trừ khi hành vi hoặc sự bỏ sót đó được chứng minh là có ý đồ xấu (bad faith)

Điều 25 IAA 1994 quy định về quyền miễn trừ của cơ quan bổ nhiệm và TCTT, theo đó TCTT không chịu trách nhiệm đối với hành vi hoặc thiếu sót trong quá trình thực hiện chức năng quản lý tố tụng của họ (cụ thể là nhiệm vụ chỉ định hoặc đề cử trọng tài viên) trừ khi các hành vi và thiếu sót đó được chứng minh là thực hiện với ý đồ xấu (“bad faith”). Sai sót về thủ tục, việc không thực hiện hành vi hoặc sự sơ suất nào đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chỉ định hoặc bổ nhiệm của TCTT sẽ không thể trở thành cơ sở để khởi kiện với TCTT. Quy định này cũng tương tự đối với trọng tài nội địa Singapore theo Điều 59 AA 2001[41].

Cách tiếp cận của Singapore có phần hẹp hơn so với hướng tiếp cận về quyền miễn trừ tại Hoa Kỳ khi chỉ tập trung áp dụng quyền miễn trừ cho cơ quan bổ nhiệm hoặc TCTT đối với hành vi bổ nhiệm hoặc đề cử trọng tài viên (mà không bao gồm các nhiệm vụ hành chính khác). Điều khoản này phù hợp với thuyết thẩm quyền, phản ánh thực tế hoạt động bổ nhiệm trọng tài viên của TCTT mang tính quyền hạn tố tụng (“procedural authority”) và bán tư pháp (“quasi-judicial”), vì vậy cần được bảo vệ khỏi các tranh chấp phụ phát sinh từ các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài để họ có thể thực hiện chức năng của mình mà không phải lo lắng về rủi ro & hậu quả pháp lý[42]. Nhìn nhận một cách tổng thể, cách tiếp cận của Singapore đối với quyền miễn trừ của TCTT trong IAA 1994 và AA 2001 thể hiện sự cân nhắc kỹ lưỡng giữa hai mục tiêu: bảo vệ sự độc lập và hiệu quả hoạt động của TCTT, đồng thời duy trì cơ chế chịu trách nhiệm tối thiểu để bảo vệ quyền lợi của các bên tranh chấp. Điểm đáng ghi nhận trong mô hình của Singapore là việc ghi nhận trực tiếp quyền miễn trừ vào quy định pháp luật quốc gia - một bước đi mà ngay cả Hoa Kỳ với truyền thống trọng tài lâu đời cũng chưa thực hiện ở cấp độ liên bang.

Nhóm tác giả nhận định, quy định tại Điều 25 IAA 1994 có phạm vi miễn trừ còn hẹp khi chỉ tập trung vào nhiệm vụ bổ nhiệm hoặc đề cử trọng tài viên, trong khi vai trò của TCTT trong thực tiễn tố tụng trọng tài còn bao gồm nhiều chức năng quản lý hành chính rộng hơn, chẳng hạn như kiểm soát tiến độ tố tụng, xem xét và phê duyệt phán quyết về mặt hình thức, xử lý các yêu cầu về bảo mật, hay giải quyết tranh chấp về phí trọng tài. Những nhiệm vụ này đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và kết quả của tố tụng trọng tài, song lại không được điều chỉnh bởi quyền miễn trừ theo IAA 1994. Đây là khoảng trống mà các TCTT hoạt động tại Singapore cần lấp đầy thông qua điều khoản miễn trừ trong chính quy tắc tố tụng của họ như cách SIAC đã làm tại Điều 65 Quy tắc SIAC 2025 (sẽ được phân tích cụ thể hơn ở phần tiếp).

Đồng thời, cần lưu ý rằng quyền miễn trừ theo IAA 1994 và AA 2001 chỉ giới hạn trong phạm vi các nhiệm vụ, chức năng của TCTT (tập trung vào nhiệm vụ đề cử, bổ nhiệm trọng tài viên và thực hiện thủ tục hành chính)[43][44], và quyền miễn trừ không phải là tuyệt đối nếu các bên chứng minh được hành vi hoặc sai sót của TCTT là được thực hiện với ý đồ không thiện chí (“bad faith”). “Ý đồ không thiện chí” thường đề cập đến các hành động cố ý lừa dối, không trung thực hoặc được thực hiện với ý định xấu[45]. IAA 1994 lại không định nghĩa cụ thể thế nào là ý đồ không thiện chí (bad faith), dẫn đến sự phụ thuộc đáng kể vào việc giải thích của tòa án trong từng vụ việc cụ thể. Tuy nhiên, các tòa án Singapore có lập trường ủng hộ mạnh mẽ trọng tài và thường tránh can thiệp vào các vụ việc của TCTT, trừ khi có căn cứ pháp lý rõ ràng[46].

Tóm lại, pháp luật Singapore ghi nhận trực tiếp quyền miễn trừ của TCTT trong luật quốc gia; song chỉ ghi nhận quyền miễn trừ giới hạn trong hoạt động bổ nhiệm và chỉ định trọng tài viên. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính độc lập của TCTT, vừa duy trì cơ chế kiểm soát trách nhiệm pháp lý ở mức cần thiết, qua đó tạo nền tảng để các TCTT làm rõ phạm vi miễn trừ thông qua quy tắc tố tụng. Đây là kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam khi nghiên cứu khả năng xây dựng quy định quyền miễn trừ của TCTT trong quá trình hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại.

2.2.2. Quy định về quyền miễn trừ của Trung tâm trọng tài Quốc tế Singapore

SIAC từ lâu đã ghi nhận quyền miễn trừ tư pháp của cá nhân làm việc và đại diện cho TCTT tại nhiều phiên bản SIAC Rules, bao gồm Quy tắc SIAC năm 2014 và năm 2025. Theo Điều 65 Quy tắc SIAC 2025, thông qua việc lựa chọn SIAC, các bên đồng ý tuân thủ Bộ Quy tắc, trong đó bao gồm việc đồng ý với quyền miễn trừ trách nhiệm của SIAC và các trọng tài viên, các nhân viên, thành viên liên quan với hai khía cạnh cụ thể: (i) không chịu trách nhiệm với các sai sót trong thủ tục tố tụng trọng tài, không bị khởi kiện và (ii) không trở thành nhân chứng trong bất kỳ thủ tục tố tụng tư pháp, trọng tài, hành chính hoặc bất kỳ thủ tục nào khác. So sánh với quy định của AAA, cách tiếp cận của SIAC tại Điều 65 Quy tắc 2025 thể hiện sự cân bằng tinh tế hơn giữa việc bảo vệ TCTT và duy trì trách nhiệm giải trình tối thiểu. Cụ thể, Điều 65.1 bao hàm cả sai sót về thủ tục, về pháp luật, về sự kiện và cả các quyết định, phán quyết trong quá trình trọng tài, cho phép một mức độ áp dụng quyền miễn trừ rộng hơi đáng kể so với quy định tại IAA 1994 (vốn chỉ nhắm đến “cơ quan bổ nhiệm” và nhiệm vụ bổ nhiệm trọng tài viên). Điều này phản ánh thực tiễn rằng quản lý tố tụng của SIAC là một tổng thể các chức năng gắn kết chặt chẽ với nhau, không thể tách bạch từng nhiệm vụ để áp dụng miễn trừ một cách rời rạc.

Đồng thời, Điều 65.1 của SIAC quy định rõ rằng các bên “được coi là đã đồng ý thêm rằng việc loại trừ trách nhiệm như đã thỏa thuận trong Quy tắc 65.1 là công bằng và hợp lý”, cho thấy SIAC đã chủ động xây dựng cơ chế phòng ngừa tranh chấp về tính hợp lệ của điều khoản miễn trừ. Về bản chất, SIAC đang soạn thảo thêm một điều khoản xác nhận trong “hợp đồng cung cấp dịch vụ pháp lý” giữa TCTT và cá nhân. Bằng cách đồng ý lựa chọn SIAC, các bên đồng ý với Điều 65.1 trong Quy tắc tố tụng của trung tâm, làm cho sự đồng thuận của các bên trở thành tường rào pháp lý chống lại các thách thức sau này - một cách tiếp cận thể hiện rõ học thuyết hợp đồng (contractual theory).

Khác với quy định của AAA, SIAC không áp dụng quyền miễn trừ tuyệt đối cho TCTT. Trong trường hợp nếu một trong các bên của vụ kiện trọng tài chứng minh được SIAC hoặc các nhân viên, thành viên liên quan của SIAC được đề cập tài Điều 65.1 đã có (i) hành vi (act), (ii) thiếu sót (omission) hoặc (iii) sai sót (mistake) được thực hiện một cách gian lận (carried out fraudulently), và các bên được coi là đã đồng ý thêm rằng việc loại trừ trách nhiệm như đã thỏa thuận trong Quy tắc 65.1 là công bằng và hợp lý, quyền miễn trừ đối với TCTT không được áp dụng. Do đó, khi một bên chứng minh được yếu tố gian lận, SIAC và các chủ thể liên quan không thể viện dẫn điều khoản miễn trừ.

Như vậy, SIAC đã kết hợp học thuyết hợp đồng với cơ chế miễn trừ có giới hạn để xây dựng Quy tắc bảo vệ TCTT mà không loại bỏ hoàn toàn trách nhiệm pháp lý. Mô hình này không chỉ bổ sung cho những giới hạn của IAA 1994 mà còn gợi mở hướng hoàn thiện quy tắc tố tụng của các TCTT Việt Nam trong trường hợp pháp luật chưa ghi nhận trực tiếp quyền miễn trừ. Đây là một hướng tiếp cận linh hoạt Việt Nam có thể cân nhắc áp dụng trong giai đoạn đầu trước khi nghiên cứu xây dựng quy định về quyền miễn trừ của TCTT trong Luật Trọng tài thương mại.

2.3. Đánh giá sự phù hợp trong cách tiếp cận quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài tại Hoa Kỳ và Singapore đối với Việt Nam

Nhìn từ góc độ so sánh pháp luật, cách tiếp cận quyền miễn trừ của TCTT tại Hoa Kỳ và Singapore sở hữu những ưu điểm nổi bật để Việt Nam tham khảo. Tuy nhiên, do sự khác biệt trong hệ thống pháp luật, Việt Nam cần tiếp thu các kinh nghiệm quốc tế một cách cẩn trọng, có sự điều chỉnh để phù hợp với hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành.

Đối với Hoa Kỳ, quy định về quyền miễn trừ của Hoa Kỳ có ưu điểm là khả năng bảo vệ TCTT thông qua các lý lẽ để đảm bảo TCTT không phải chịu trách nhiệm dân sự với những sai sót xảy ra trong quá trình quản lý tố tụng, giúp triệt tiêu đáng kể nguy cơ các bên tranh chấp sử dụng tố tụng dân sự tại Tòa án để hủy phán quyết trọng tài hoặc gây áp lực lên TCTT và góp phần tối ưu hóa chi phí vận hành và bảo toàn tính chung thẩm của tố tụng trọng tài. Tuy nhiên, nhược điểm của quy định này là nguy cơ dẫn đến sự thiếu kiểm soát đối với trách nhiệm giải trình. Nếu TCTT có hành vi sai sót nghiêm trọng do lỗi cố ý hoặc quản lý yếu kém trong quá trình quản lý hoặc thực thi trách nhiệm trong tố tụng trọng tài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, các bên tranh chấp khó có thể bảo đảm lợi ích của mình thông qua quy trình tố tụng tại Tòa án.

Theo quan điểm của nhóm tác giả, Việt Nam không nên rập khuôn nguyên mẫu quyền miễn trừ tuyệt đối theo kinh nghiệm của Hoa Kỳ. Trước hết, Việt Nam thuộc hệ thống Civil Law, trong đó quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được xác lập chủ yếu trên cơ sở pháp luật thành văn. Ở chiều ngược lại, phạm vi quyền miễn trừ của TCTT tại Hoa Kỳ được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua hệ thống án lệ. Sự khác biệt về nguồn luật khiến việc xác định cơ sở miễn trừ, phạm vi miễn trừ và cơ chế kiểm soát trách nhiệm theo quy định của pháp luật Việt Nam sẽ khó có thể sao chép trực tiếp mô hình của Hoa Kỳ. Đồng thời, triết lý tư pháp của Việt Nam luôn đề cao nguyên tắc có lỗi phải bồi thường và tính chịu trách nhiệm của chủ thể thực hiện quyền lực hoặc dịch vụ công/bán tư pháp. Điều này thể hiện rất rõ qua Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, khi ngay cả Thẩm phán cũng phải chịu trách nhiệm nếu có lỗi chủ quan gây ra sai sót. Do đó, một cơ chế miễn trừ mang tính "tuyệt đối" không có ngoại lệ như của Hoa Kỳ sẽ dễ vấp phải sự phản ứng của dư luận và không phù hợp với văn hóa pháp lý của quốc gia.

Đối với Singapore, về ưu điểm, điểm đáng chú ý nhất là Singapore đã quy định quyền miễn trừ trực tiếp vào văn bản luật quốc gia (IAA 1994 và AA 2001), thay vì để quyền này chỉ tồn tại trong quy tắc nội bộ của các TCTT hoặc Hiệp hội trọng tài (AAA) như mô hình của Hoa Kỳ. Cách làm này tạo ra một nền tảng pháp lý thống nhất, có tính cưỡng chế cao và đảm bảo áp dụng đồng đều đối với mọi TCTT hoạt động tại Singapore. Đây là ưu điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với Việt Nam - một quốc gia theo truyền thống pháp luật thành văn (civil law), nơi các quy định hành xử trong lĩnh vực pháp lý nhìn chung phải có cơ sở trong luật hoặc văn bản dưới luật mới được thừa nhận rộng rãi. Hơn nữa, mô hình Singapore áp dụng tiêu chí ngoại lệ về ý đồ xấu - (“bad faith”) và không áp đặt quyền miễn trừ tuyệt đối, qua đó duy trì sự kiểm soát tối thiểu của cơ quan tư pháp đối với hành vi của TCTT. Việt Nam có thể học tập cơ chế trên, đồng thời tiếp hành áp dụng theo lộ trình cụ thể, trước hết là trong Bộ Quy tắc của các TCTT, sau đó là nghiên cứu để áp dụng và xây dựng quy định trong Luật Trọng tài thương mại.

Tuy nhiên, mô hình Singapore cũng có những điểm hạn chế nhất định. Phạm vi miễn trừ theo IAA 1994 còn hẹp, chỉ giới hạn ở chức năng bổ nhiệm trọng tài viên. Đồng thời, IAA 1994 và AA 2001 Singapore sử dụng ý đồ không thiện chí (bad faith) làm điều kiện loại trừ quyền miễn trừ - một khái niệm nền tảng thuộc hệ thống Thông Luật được định hình chủ yếu qua các nghiên cứu của học giả và thực tiễn xét xử (án lệ), cho phép các cơ quan tài phán linh hoạt giải thích hành vi theo từng vụ việc cụ thể để loại bỏ quyền miễn trừ. Nếu áp dụng quy định này tại Việt Nam, nhóm tác giả đề xuất cần nghiên cứu, xây dựng hướng dẫn cụ thể về cách xác định ý đồ không thiện chí[47] để việc áp dụng pháp luật được thống nhất giữa các Tòa án. Do đó, để nội luật hóa tiêu chí này, cần nghiên cứu toàn diện và cụ thể hóa thành các quy phạm thành văn nhằm đảm bảo tính tương thích và khả thi trong thực tiễn áp dụng.

Bên cạnh đó, sự thành công của quyền miễn trừ với TCTT tại Hoa Kỳ và Singapore được bảo đảm bởi thái độ “pro-arbitration” nhất quán của toàn bộ hệ thống tư pháp, nơi các tòa án chủ động kiềm chế can thiệp và coi trọng tài là một thiết chế cần được tôn trọng. Trong khi đó, Tòa án Việt Nam vẫn có sự can thiệp tương đối cao vào hoạt động của TCTT. Theo nhóm tác giả, vấn đề này do hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, Luật Trọng tài thương mại hiện hành vẫn đang trao cho Tòa án thẩm quyền can thiệp nhất định vào quá trình tố tụng trọng tài, thể hiện qua các cơ chế như thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hay chỉ định trọng tài viên. Ngoài thẩm quyền xét thỏa thuận trọng tài vô hiệu, hủy phán quyết trọng tài, hoặc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, Luật Trọng tài thương mại 2010 hiện đang trao khá nhiều quyền cho Tòa án can thiệp vào quá trình tố tụng trọng tài, như quyền thu thập chứng cứ theo yêu cầu của HĐTT (Khoản 6 Điều 46), quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu các bên (Khoản 2 Điều 48), quyền chỉ định trọng tài viên theo yêu cầu của một bên (Điều 41). Thứ hai, hệ thống tư pháp Việt Nam vốn được hình thành và phát triển trên nền tảng tư duy tố tụng truyền thống, trong khi trọng tài thương mại chỉ mới được ghi nhận và phát triển mạnh trong khoảng hai thập niên gần đây. Do đó, nhận thức và cách tiếp cận của một bộ phận Thẩm phán đối với trọng tài với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế vẫn chưa thực sự cởi mở, dẫn đến xu hướng hỗ trợ trọng tài còn tương đối hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Do hai rào cản trên, việc hoàn thiện pháp luật không thể tiến hành theo hướng sao chép cơ học mô hình của Hoa Kỳ hay Singapore. Thay vào đó, Việt Nam cần xây dựng một lộ trình cải cách thận trọng, có định hướng rõ ràng, vừa bảo đảm tính khả thi, vừa từng bước thu hẹp khoảng cách về tư duy lập pháp để bất kỳ sự mở rộng miễn trừ nào trong tương lai đều được đặt trên một nền tảng thực tiễn vững chắc, phù hợp với điều kiện đặc thù của Việt Nam.

3. Thực trạng và gợi mở hoàn thiện pháp luật về quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài tại Việt Nam

3.1. Thực trạng pháp luật về quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa quy định trực tiếp về quyền miễn trừ trách nhiệm dân sự đối với TCTT (bao gồm TTTT, chi nhánh, văn phòng đại diện). Theo Đề cương dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trọng tài thương mại cập nhật đến ngày 23/10/2023[48], ban soạn thảo chỉ đề ra phương án bổ sung quy định về quyền miễn trừ trách nhiệm và phạm vi trách nhiệm của Hội đồng Trọng tài và Trọng tài viên, theo hướng tương tự quy định của Luật mẫu [49][50]. Các quan điểm này cho thấy quyền miễn trừ của TCTT chưa nhận được nhiều sự quan tâm, đảm bảo của các nhà làm luật.

Đáng lưu ý, trước xu hướng phát triển trong điều phối tố tụng trọng tài tại nhiều TCTT trên thế giới, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) đã công bố Quy tắc tố tụng trọng tài năm 2026[51], trong đó có quy định về miễn trừ trách nhiệm của Trung tâm tại khoản 1 Điều 44 Quy tắc VIAC: “các Trọng tài viên, Trung tâm, nhân sự của Trung tâm bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, Ban Cố vấn, Ban Thư ký tố tụng và các nhân viên của Trung tâm sẽ không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ hành vi hoặc thiếu sót do bất cẩn nào liên quan tới nội dung hoặc thủ tục ban hành các quyết định, phán quyết, văn bản khác hoặc bất kỳ sai sót nào về thủ tục trong toàn bộ quá trình tố tụng trọng tài, ngoại trừ trường hợp có thể chứng minh rằng hành vi hoặc thiếu sót hoặc sai sót đó đã được thực hiện một cách gian dối, thiếu trung thực.”. Việc xây dựng quy phạm này mở ra xu hướng phát triển mới về quyền miễn trừ của TCTT tại Việt Nam. Theo đó, VIAC không phải chịu trách nhiệm pháp lý với thiệt hại xảy ra do bất cẩn trong quá trình quản lý tố tụng, nghĩa là chỉ được hưởng miễn trừ với lỗi vô ý; những hành vi sai phạm gây thiệt hại do cố ý, ác ý không thuộc trường hợp được hưởng quyền miễn trừ. Phạm vi hưởng quyền miễn trừ theo quy định của VIAC tương đối rộng, bao hàm mọi thủ tục trong quá trình tố tụng trọng tài. Việc mở rộng phạm vi này sẽ góp phần giúp các nhân sự của Trung tâm hoàn toàn độc lập, vô tư, khách quan trong quá trình thực hiện chức trách. Đồng thời, mặc dù pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể về quyền miễn trừ cho TCTT, VIAC đã quy định nội dung này dựa trên nguyên tắc sự đồng thuận của các bên (“party autonomy”) khi quy định tại khoản 3 Điều 44:

Bằng việc lựa chọn Trung tâm và/hoặc Quy tắc của Trung tâm để giải quyết tranh chấp, các bên được coi là đã đồng ý rằng quy định về giới trách nhiệm theo Điều này là công bằng và hợp lý; và các bên được coi là đã từ bỏ mọi quyền khiếu nại hoặc yêu cầu bồi thường đối với Trọng tài viên, Trung tâm hoặc nhân sự của Trung tâm.”.

Nhóm tác giả cho rằng đây là quy định hợp lý nhằm hợp thức hóa quyền miễn trừ đối với TCTT, phù hợp với quy định về nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được ghi nhận tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam chưa có quy định chính thức về vấn đề này.

3.2. Một số gợi mở về việc xây dựng quy định về quyền miễn trừ của tổ chức trọng tài tại Việt Nam

Theo quan điểm của nhóm tác giả, việc xây dựng quy định này trong hệ thống pháp luật Việt Nam là vấn đề cần nhanh chóng nghiên cứu, đánh giá và hoàn thiện nhằm phát triển thị trường ADR.

Về học thuyết nền tảng, mặc dù Việt Nam không có nền tảng học thuyết chính thức về miễn trừ đối với TCTT như Hoa Kỳ, nhưng các quy định hiện hành đã thể hiện rõ giới hạn trách nhiệm của người thực hiện quyền tư pháp. Như đã trình bày tại phần kinh nghiệm của Hoa Kỳ, quyền miễn trừ của TCTT là quyền được mở rộng từ quyền miễn trừ của trọng tài viên, do chức năng của trọng tài viên có nét tương đồng với thẩm phán. Tại Việt Nam, Thẩm phán không phải chịu trách nhiệm với những lỗi vô ý xảy ra trong quá trình tố tụng như quy định tại khoản 5 Điều 102 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024: “Thẩm phán đã ra bản án, quyết định mà bản án, quyết định đó bị hủy, sửa phải chịu trách nhiệm khi có lỗi chủ quan theo quy định của pháp luật.” Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng quy định phải “xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường”[52]. Luật loại bỏ các hành vi vô ý, bất cẩn của người thi hành công vụ khỏi phạm vi phải bồi thường, điều này có nét tương đồng với quy định về ngoại lệ của quyền miễn trừ tư pháp tại Hoa Kỳ. Mặc dù Việt Nam có quy định khá tương đồng với Hoa Kỳ về quyền miễn trừ đối với cá nhân, song Việt Nam không có bất cứ quy định nào về việc mở rộng quyền miễn trừ này đến các TCTT. Điều này đặt ra bài toán về việc mở rộng các quy định của pháp luật liên quan đến quyền miễn trừ của tổ chức, trước khi chính thức công nhận quyền miễn trừ của TCTT.

Về phạm vi quy định quyền miễn trừ, nhóm tác giả đề xuất thí điểm cơ chế quyền miễn trừ trong phạm vi chức năng chỉ định trọng tài viên như mô hình của Singapore (quyền miễn trừ tương đối đối với TCTT). Chỉ định trọng tài viên là chức năng cơ bản, mang tính hành chính thuần túy, dễ dàng xác định các lỗi như gian lận nghiêm trọng, sai sót một cách cố ý, vì vậy, việc áp dụng thí điểm tại phạm vi này là phù hợp để đánh giá mức khả thi của quy định. Bên cạnh đó, việc áp dụng quyền miễn trừ trong phạm vi thực hiện chức năng chỉ định trọng tài viên giúp đánh giá thực chất tính hiệu quả và sự phù hợp để xem xét mở rộng phạm vi quy định trong các giai đoạn tiếp theo. Ngược lại, mô hình của Hoa Kỳ áp dụng quyền miễn trừ của TCTT với mọi giai đoạn của quá trình tố tụng trọng tài không phù hợp với Việt Nam do việc mở rộng đó có thể gây nên những tác động tiêu cực như việc lạm dùng quyền miễn trừ một cách không cần thiết.

Về các trường hợp không áp dụng quyền miễn trừ, nhóm tác giả đề xuất không áp dụng đối với các hành vi cố ý, gian lận, lạm dụng quyền hạn, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nghề nghiệp. Cơ chế này giải quyết được lo ngại về việc ghi nhận quyền miễn trừ của TCTT trong quy định pháp luật Việt Nam có thể làm suy giảm khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên sử dụng dịch vụ trọng tài, đặc biệt trong trường hợp TCTT có sai sót trong quá trình quản lý tố tụng. Tuy nhiên, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và Singapore cho thấy quyền miễn trừ không phải là cơ chế loại trừ toàn bộ trách nhiệm pháp lý, mà chỉ giới hạn đối với những hành vi được thực hiện trong phạm vi chức năng quản lý tố tụng trọng tài; với các hành vi cố ý, gian lận, lạm dụng quyền hạn hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nghề nghiệp, TCTT vẫn phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật hoặc theo quy tắc tố tụng của chính tổ chức đó.

Về cơ chế tránh lạm dụng quyền miễn trừ, nhóm tác giả đề xuất các TCTT tại Việt Nam chủ động xây dựng cơ chế nội bộ nhằm bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của TCTT. Cụ thể, các TCTT tại Việt Nam có thể xây dựng (i) quy trình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại đối với hoạt động quản lý tố tụng; (ii) cơ chế kiểm tra, giám sát nội bộ đối với Ban Thư ký và các bộ phận hỗ trợ; (iii) quy định rõ trách nhiệm kỷ luật, bồi hoàn hoặc xử lý đối với cá nhân có hành vi cố ý hoặc vi phạm nghiêm trọng. Việc kết hợp giữa quyền miễn trừ có giới hạn và cơ chế trách nhiệm nội bộ sẽ góp phần cân bằng giữa yêu cầu bảo vệ tính độc lập của TCTT với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp.

Về lộ trình xây dựng quyền miễn trừ, trước hết nhóm tác giả đề xuất nên có cơ chế thí điểm áp dụng quyền miễn trừ tại Việt Nam, cụ thể trong phạm vi Trung tâm Tài chính quốc tế - tương tự cách tiếp cận Việt Nam đã áp dụng với thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu Tòa án hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên hoặc phán quyết trọng tài có hiệu lực pháp luật (theo khoản 6 Điều 4 Nghị định số 328/2025/NĐ- CP về Trung tâm Trọng tài quốc tế thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam). Việc áp dụng trong phạm vi hẹp, có tính chất quốc tế đặc thù giúp đánh giá chính xác tác động của quy định về quyền miễn trừ của TCTT với việc phát triển của kinh tế Việt Nam nói chung và cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nói riêng.

Tóm lại, việc ghi nhận quyền miễn trừ của TCTT là định hướng cần được nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện pháp luật trọng tài tại Việt Nam. Tuy nhiên, quyền miễn trừ cần được thiết kế theo hướng có giới hạn, chỉ áp dụng đối với các hoạt động thuộc chức năng quản lý tố tụng và không bao gồm các hành vi cố ý hoặc thiếu trung thực. Đồng thời, việc kết hợp cơ chế miễn trừ với cơ chế giải trình, trách nhiệm nội bộ và lộ trình áp dụng phù hợp sẽ góp phần bảo đảm tính độc lập, hiệu quả của TCTT và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên. Đây là cách tiếp cận thận trọng, phù hợp với điều kiện pháp lý và thực tiễn phát triển trọng tài thương mại tại Việt Nam, từ đó tạo nền tảng cho việc từng bước hoàn thiện các quy định về quyền miễn trừ của TCTT tại Việt Nam trong tương lai.

Kết luận

Như vậy, quyền miễn trừ của TCTT là cơ chế nhằm bảo đảm tính chung thẩm, độc lập, khách quan và sự ổn định của hệ thống ADR thông qua việc bảo vệ TCTT khỏi những vụ kiện mang tính “trả đũa” từ bên thua kiện, giảm các chi phí dự phòng phát sinh và tâm lý e ngại của TCTT. Dựa trên kinh nghiệm của Hoa Kỳ và Singapore, nhóm tác giả đã phân tích khả năng xây dựng cơ chế miễn trừ đối với TCTT tại Việt Nam dựa trên quy định pháp luật hiện hành và xu hướng phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Giải pháp này không chỉ là bước đi tất yếu để quy định pháp luật về trọng tài thương mại tại Việt Nam tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế, mà còn là nền tảng giúp Việt Nam trở thành một điểm đến đầu tư hấp dẫn, tin cậy thông qua cơ chế trọng tài an toàn, minh bạch và hiệu quả.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Sách và luận văn:

1. Adam Samuel, Jurisdictional Problems in International Commercial Arbitration: A Study of Belgian, Dutch, English, French, Swedish, Swiss, U.S. and West German Law 61 (Schulthess Polygraphischer Verlag Zurich 1989);

2. Ahmed Fathy Mohamed El Shourbagy, Arbitrator and Arbitral Institution – Liability and Insurance (Doctoral Thesis), Erasmus University Rotterdam, (2021),https://repub.eur.nl/pub/135624/ahmed-f-elshourbagy-dissertation-final-version-30621.pdf;

3. Emilia Onyema, International Commercial Arbitration and the Arbitrator’s Contract, Routledge, 30, 33, 39 (2010).

4. F. Ferrari & F. Rosenfeld (eds.), Elgar Concise Encyclopedia of International Commercial Arbitration, Edward Elgar Publishing, (2025);

5. G. Aksen, A Practical Guide to International Arbitration, The Association, 49, 50 (1986);

6. Gary B. Born, International Commercial Arbitration, Kluwer Law International, (3rd ed., 2021);

7. Hans Van Houtte & Bridie McAsey, Arbitral Institutions under Scrutiny: ASA Special Series No. 40, Juris Publishing, Inc., 162 (2013);

8. H. C. Black, Black’s Law Dictionary: Definitions of the Terms and Phrases of American and English Jurisprudence, Ancient and Modern, West Publishing Co., 961, (rev. 4th ed., 1968);

9. Lawrence W. Newman & Richard D. Hill (eds.), The Leading Arbitrators’ Guide to International Arbitration, Juris Publishing, 161–170 (3rd ed., 2014);

10. Lại Việt Hòa, Huỷ Phán Quyết Trọng Tài tại Tòa án Việt Nam (Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 56, (2025);

11. Margaret L. Moses, The Principles and Practice of International Commercial Arbitration, Cambridge University Press, (2017);

12. Mauro Rubino-Sammartano, International Arbitration: Law and Practice, Juris Publishing, New York, 415 (3rd ed., 2014);

13. Simon Greenberg, Christopher Kee & J. Romesh Weeramantry, International Commercial Arbitration: An Asia-Pacific Perspective, Cambridge University Press, 25 (2011);

14. Tan Paul, Nelson Goh & Jonathan Lim, The Singapore International Arbitration Act: A Commentary, Oxford University Press, 310–314 (2023).

Báo, tạp chí:

15. Andrew Barraclough & Jeff Waincymer, Mandatory Rules of Law in International Commercial Arbitration, Melbourne journal of international law, 6, 5 (2005)

16. Elizabeth Wilhelmi, How Far Is Too Far: Reexamining the Continuing Extension of Arbitral Immunity to Arbitral Organizations, Journal of Dispute Resolution, 1, 325, 326 (2006)

17. Hsu Locknie, The Adoption of the UNCITRAL Model Law on arbitration in Singapore. Singapore Journal of Legal Studies, 1, 387, 390 (1994)

18. Jason P.H. Wong, Time to Tackle the Elephant in the Room? Repeating the Call for Greater Institutional Arbitral Liability, 32 The American Review of International Arbitration, 4, 475, 476, 477 (2022)

19. Jenifer Yapp, The Liability of Arbitral Institutions, 13 Asian Disp. Rev. 4, 114, 144 - 116 (2011)

20. Jenny Brown, Expansion of Arbitral Immunity: Is Absolute Immunity a Foregone Conclusion, Journal of Dispute Resolution, 1, 225, 227 (2009)

21. Julian D. M. Lew, Applicable Law in Commercial Arbitration, 47 The International Journal Of Arbitration, Mediation And Dispute Management, 2, 92, 93 – 97 (1981)

22. Lê Hồng Sơn, Xác định thế nào là “thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” trong thực tiễn xét xử, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, 42, 97, 99 (2020);

23. Lê Nguyễn Gia Thiện, Lê Nguyễn Gia Thuận, Thỏa thuận trọng tài hay là hợp đồng cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp, 2 Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ: Chuyên san Kinh tế - Luật và Quản lý, 1, 58, 64, (2018)

24. M. Rasmussen, Overextending Immunity: Arbitral Institutional Liability in the United States, England, and France, 26 Fordham International Law Journal 6, 1824 (2002)

25. Nehad Khanfar, The Liability of the International Arbitration Institutions on the Arbitrator’s Errors: An Examination of the Influence of Legal Traditions of Civil and Common Law, 8 Kilaw Journal, 4, 295, 296 (2020)

26. Peter B. Rutledge, Toward a Contractual Approach to Arbitral Immunity, 39 Georgia Law Review, 1, 151, 158 (2004)

27. Susan Franck, The Liability of International Arbitrators: A Comparative Analysis and Proposal for Qualified Immunity, 20 NYL Sch. J. Int'l & Comp. L., 1, 17, 26 (2000).

Ấn phẩm điện tử, website:

28. Aaron Tan Kai Ran, Joel Ko, Limits of Court Involvement in Decisions of Arbitral Institutions: The Singapore High Court in DMZ v DNA [2025] SGHC 31, KLUWER ARBITRATION BLOG, (08/05/2025), https://legalblogs.wolterskluwer.com/arbitration-blog/limits-of-court-involvement-in-decisions-of-arbitral-institutions-the-singapore-high-court-in-dmz-v-dna-2025-sghc-31/

29. Abdulla Z. Galadari, Sergejs Dilevka & Dmitriy Mednikov, AI Commentary: Singapore International Arbitration Act 1994, Galadari Legal Consultation (2024),https://galadarilaw.com/wp-content/uploads/2024/04/13-ia commentary-on-singapore-international-arbitration-act.pdf

30. Adedoyin Rhodes-Vivour San, Immunity of Arbitrator, Doyin Rhodes Vivour & Co, (2020), https://drvlawplace.com/wp-content/uploads/2020/09/Immunity-of-Arbitrators-PDF-Version.pdf

31. Đào Trí Úc, Những vấn đề cơ bản của Luật Trọng tài, VIBONLINE (24/11/2008), https://vibonline.com.vn/bao_cao/nhung-van-de-co-ban-cua-luat-trong-tai-gs-tskh-dao-tri-uc

32. Grace N. Rowden, Narrowing Judicial Immunity: Holding Judges Accountable For Exercising Jurisdiction Where They Are Statutorily Barred From Doing So, MISSOURI LAW REVIEW (April 26, 2024), https://lawreview.missouri.edu/narrowing-judicial-immunity-holding-judges-accountable-for-exercising-jurisdiction-where-they-are-statutorily-barred-from-doing-so/

33. Hội Luật gia Việt Nam, Hồ sơ đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trọng tài thương mại, VIB ONLINE (27/03/2026), https://vibonline.com.vn/du_thao/ho-de-nghi-xay-dung-luat-sua-doi-bo-sung-mot-dieu-cua-luat-trong-tai-thuong-mai

34. Legal Dictionary, Definition of Immunity, LEGAL DICTIONARY, (29/03/2017), https://legaldictionary.net/immunity/

35. Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Nhật Dương, Một số góp ý xây dựng quy định về trách nhiệm của Trọng tài viên khi sửa Luật Trọng tài thương mại, Tạp chí Điện tử Pháp lý (25/09/2024), https://phaply.net.vn/gop-y-sua-luat-trong-tai-thuong-mai-mot-so-van-de-can-nghien-cuu-ky-khi-xay-dung-quy-dinh-ve-trach-nhiem-cua-trong-tai-vien-a258364.html

36. Pamela K. Bookman, The Arbitration-Litigation Paradox, 72 Vand. L. Rev. 1119 (2019),

https://ir.lawnet.fordham.edu/context/faculty_scholarship/article/1968/viewcontent/The_Arbitration_Litigation_Paradox.pdf

37. Richard Hill, Hybrid ICC/SIAC arbitration clause upheld in Singapore, KLUWER ARBITRATION BLOG (10/06/2009), https://legalblogs.wolterskluwer.com/arbitration-blog/hybrid-iccsiac-arbitration-clause-upheld-in-singapore/;

38. Romain Dupeye, Arbitrators on the Witness Stand! Comparative Approaches, KLUWER ARBITRATION BLOG (03/10/2010), https://legalblogs.wolterskluwer.com/arbitration-blog/arbitrators-on-the-witness-stand-comparative-approaches

39. VIAC, Dự thảo Quy tắc tố tụng trọng tài VIAC – Phiên bản 2026, 27 (07/04/2026),https://www.viac.vn/images/News-and Events/2026/News/260407_Du-thao-Quy tac%202026/[VIAC%20Rules%202026]%20Final%20Draft%2001April%202026.pdf.

Văn bản pháp luật & Văn bản khác:

40. Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế, Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế 1985, Điều 16

41. Hoa Kỳ, Đạo luật Trọng tài Liên bang năm 1925

42. Singapore, Luật Trọng tài năm 2001, Điều 59

43. Singapore, Luật Trọng tài quốc tế năm 1994, Điều 25

44. Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13, ngày 24/11/2015, chương 1 Điều 3

45. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 số 10/2017/QH14, ngày 20 tháng 06 năm 2017, chương 1 Điều 7

46. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, ngày 24/6/2024; chương 5 Điều 102

47. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trọng tài thương mại năm 2024

48. VIAC, Dự thảo Quy tắc tố tụng trọng tài – Phiên bản 2026.

Án lệ:

49. Corey V. New York Stock Exchange, 691 F.2d 1205 (1982)

50. Forrester V. White, 484 U.S. 219 (1988)

51. Olson V. National Association Of Securities Dealers, 85 F.3d 381 (8th Cir. 1996).

* Chuyên viên pháp lý, Công ty Luật TNHH OPIC và Cộng sự

** Chuyên viên về pháp chế, Vụ Pháp chế, Bộ Khoa học và Công nghệ

[1] G. AKSEN, A PRACTICAL GUIDE TO INTERNATIONAL ARBITRATION, THE ASSOCIATION, 49, 50 (1986).

[2] H. C. BLACK, BLACK’S LAW DICTIONARY: DEFINITIONS OF THE TERMS AND PHRASES OF AMERICAN AND ENGLISH JURISPRUDENCE, ANCIENT AND MODERN, WEST PUBLISHING CO., 961, (REV. 4TH ED., 1968).

[3] Legal Dictionary, Definition of Immunity, LEGAL DICTIONARY, (29/03/2017), https://legaldictionary.net/immunity/

[4] Jason P.H. Wong, Time to Tackle the Elephant in the Room? Repeating the Call for Greater Institutional Arbitral Liability, 32 The American Review of International Arbitration, Vol.32, 4, 475, 476, 477 (2022).

[5] Adedoyin Rhodes-Vivour San, Immunity of Arbitrator, Doyin Rhodes Vivour & Co, (2020), https://drvlawplace.com/wp-content/uploads/2020/09/Immunity-of-Arbitrators-PDF-Version.pdf

[6] “Với sự nhiệt tình ngày càng tăng, hết tổ chức trọng tài này đến tổ chức trọng tài khác đã đưa vào quy tắc trọng tài của mình điều khoản miễn trừ cho các trọng tài viên. Sau đó, các nhà lập pháp đã đưa vào các điều khoản quy định về quyền miễn trừ cho trọng tài viên và các tổ chức trọng tài.”, xem thêm tại: LAWRENCE W. NEWMAN & RICHARD D. HILL (Eds.), THE LEADING ARBITRATORS’ GUIDE TO INTERNATIONAL ARBITRATION, JURIS PUBLISHING, 161 - 170 (3rd Ed., 2014).

[7] Elizabeth Wilhelmi, How Far Is Too Far: Reexamining the Continuing Extension of Arbitral Immunity to Arbitral Organizations, Journal of Dispute Resolution, 1, 325, 326 (2006), https://scholarship.law.missouri.edu/jdr/vol2006/iss1/20/

[8] Thậm chí trước khi thành lập Hội đồng Trọng tài, Chủ tịch hoặc Tổng Thư ký của tổ chức trọng tài có thẩm quyền xem xét một số yêu cầu của các bên.

[9] Andrew Barraclough, Jeff Waincymer (2005), Mandatory Rules of Law in International Commercial Arbitration, Melbourne Journal of International Law, Vol.6:

https://law.unimelb.edu.au/__data/assets/pdf_file/0003/1681167/Barraclough-and-Waincymer.pdf

[10] EMILIA ONYEMA, INTERNATIONAL COMMERCIAL ARBITRATION AND THE ARBITRATOR’S CONTRACT, ROUTLEDGE, 30, 33 , 39 (2010).

[11] Lê Nguyễn Gia Thiện, Lê Nguyễn Gia Thuận, Thỏa thuận trọng tài hay là hợp đồng cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ: Chuyên san Kinh tế - Luật và Quản lý, Tập 2, 1, 58, 64, (2018). https://vjol.info.vn/index.php/DHQGHCM-KTL/article/view/49082/39914

[12] Lê Hồng Sơn, Xác định thế nào là “thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” trong thực tiễn xét xử, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, 42, 97, 99 (2020).

[13] Mặc dù thực tiễn trọng tài quốc tế từng ghi nhận điều khoản trọng tài hỗn hợp, là điều khoản thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một tổ chức trọng tài bằng quy tắc của một tổ chức trọng tài khác (trong vụ Insigma Technology Co Ltd v Alstom Technology Ltd [2009] SGCA 24, các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại TTTT Quốc tế Singapore bằng quy tắc của Phòng Thương mại Quốc tế), tuy nhiên, điều này không được khuyến khích do tiềm ẩn rủi ro về công nhận, cho thi hành phán quyết và chi phí phát sinh, xem thêm tại: Richard Hill, Hybrid ICC/SIAC arbitration clause upheld in Singapore, KLUWER ARBITRATION BLOG (10/06/2009), https://legalblogs.wolterskluwer.com/arbitration-blog/hybrid-iccsiac-arbitration-clause-upheld-in-singapore/

[14] Emilia Onyema (2010), tlđd , 12, 33.

[15] Nehad Khanfar, The Liability of the International Arbitration Institutions on the Arbitrator’s Errors: An Examination of the Influence of Legal Traditions of Civil and Common Law, 8 Kilaw Journal, 4, 295, 296 (2020), https://journal.kilaw.edu.kw/wp-content/uploads/2021/07/295-312-Dr.-Nehad-Khanfar.pdf

[16] Elizabeth Wilhelmi (2006), tlđd, 9, 321.

[17] Grace N. Rowden, Narrowing Judicial Immunity: Holding Judges Accountable For Exercising Jurisdiction Where They Are Statutorily Barred From Doing So, Missouri Law Review (26/04/2024), https://lawreview.missouri.edu/narrowing-judicial-immunity-holding-judges-accountable-for-exercising-jurisdiction-where-they-are-statutorily-barred-from-doing-so/.

[18] Forrester v. White, 484 U.S. 219 (1988).

[19] Emilia Onyema (2010), tlđd , 12 33.

[20] MAURO RUBINO-SAMMARTANO, INTERNATIONAL ARBITRATION: LAW AND PRACTICE, JURIS PUBLISHING, NEW YORK, 415 (3RD ED., 2014).

[21] HANS VAN HOUTTE, BRIDIE MCASEY , ARBITRAL INSTITUTIONS UNDER SCRUTINY: ASA SPECIAL SERIES NO. 40, JURIS PUBLISHING, INC., 162 (2013).

[22] SIMON GREENBERG, CHRISTOPHER KEE & J. ROMESH WEERAMANTRY, INTERNATIONAL COMMERCIAL ARBITRATION: AN ASIA-PACIFIC PERSPECTIVE, CAMBRIDGE UNIVERSITY PRESS, 25 (2011).

[23] Ahmed Fathy Mohamed El Shourbagy, Arbitrator and Arbitral Institution – Liability and Insurance (Doctoral Thesis), Erasmus University Rotterdam, (2021), https://repub.eur.nl/pub/135624/ahmed-f-elshourbagy-dissertation-final-version-30621.pdf

[24] Julian D. M. Lew, Applicable Law in Commercial Arbitration, 47 The International Journal Of Arbitration, Mediation And Dispute Management, 2, 92, 93 – 97 (1981).

https://kluwerlawonline.com/journalarticle/Arbitration:+The+International+Journal+of+Arbitration,+Mediation+and+Dispute+Management/47.17/AMDM1981025

[25] Emilia Onyema (2010), tlđd , 12 39.

[26] M. Rasmussen, Overextending Immunity: Arbitral Institutional Liability in the United States, England, and France, 26 Fordham International Law Journal 6, 1824, 1827 (2002).

[27] GARY B. BORN, INTERNATIONAL COMMERCIAL ARBITRATION, KLUWER LAW INTERNATIONAL, (3RD ED., 2021).

[28] MARGARET L. MOSES, THE PRINCIPLES AND PRACTICE OF INTERNATIONAL COMMERCIAL ARBITRATION, CAMBRIDGE UNIVERSITY PRESS, (2017).

[29] F. FERRARI & F. ROSENFELD (EDS.), ELGAR CONCISE ENCYCLOPEDIA OF INTERNATIONAL COMMERCIAL ARBITRATION, EDWARD ELGAR PUBLISHING, (2025).

[30] Peter B. Rutledge, Toward a Contractual Approach to Arbitral Immunity, 39 Georgia Law Review, 1, 151, 158 (2004), https://digitalcommons.law.uga.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1515&context=fac_artchop

[31] Jenny Brown, Expansion of Arbitral Immunity: Is Absolute Immunity a Foregone Conclusion, Journal of Dispute Resolution, 1, 225, 227 (2009).

[32] Jennifer Yapp, The Liability of Arbitral Institutions, 13 Asian Disp. Rev. 4, 114, 114 - 116 (2011), https://kluwerlawonline.com/journalarticle/Asian+Dispute+Review/13.4/ADR2011030

[33] Corey v. New York Stock Exchange 691 F.2d 1205 (1982).

[34] Trong vụ việc này, George Corey đã khởi kiện Merrill Lynch tại trọng tài, với cáo buộc rằng Corey thua lỗ do sự sơ suất của cố vấn Wright của Lynch, người đã bị đột quỵ. Hội đồng Trọng tài đã bác bỏ yêu cầu của Corey và buộc ông phải chịu các khoản chi phí và phí trọng tài. Sau đó, Corey tiếp tục khởi kiện Lynch tại tòa án tiểu bang với cáo buộc Lynch có âm mưu tước đoạt quyền được xét xử công bằng, nhưng cáo buộc tiếp tục bị bác bỏ. Corey tiếp tục khởi kiện Sở Giao dịch Chứng khoán New York tại Tòa án Quận Liên bang, yêu cầu của ông bị bác bỏ và ông kháng cáo quyết định này. Sau quá trình tố tụng, Tòa Phúc thẩm Khu vực 6 tuyên Sở Giao dịch chứng khoán New York được miễn trừ khỏi trách nhiệm về hành vi của trọng tài viên dựa trên quy định miễn trừ trọng tài, và hành vi của Corey chống lại Sở Giao dịch chứng khoán New York đã cấu thành sự tấn công gián tiếp đến phán quyết trọng tài.

[35] Olson v. National Association of Securities Dealers 85 F.3d 381 8th Cir. (1996).

[36] Trong vụ việc này, Olson đã tham gia một vụ trọng tài được NASD quản lý trong tranh chấp với người sử dụng lao động cũ vì họ có hành vi phân biệt đối xử với Olson do tuổi tác. Phán quyết của Hội đồng Trọng tài có lợi cho những người sử dụng lao động, nhưng Olson phát hiện ra Edward J. Hentges, một thành viên của Hội đồng Trọng tài, có quan hệ kinh doanh với những người sử dụng lao động. Olson đã đệ đơn kiện NASD do đã bổ nhiệm Hentges làm trọng tài viên. Ông cho rằng việc bổ nhiệm trọng tài viên không thuộc phạm vi tố tụng trọng tài bởi nó xảy ra trước khi bắt đầu giải quyết tranh chấp, và hành vi của NASD là gian dối, quản lý trọng tài một cách cẩu thả, khiến ông phải chịu các tổn thương tinh thần. Tòa án quận giải quyết vụ việc này đã bác bỏ yêu cầu của Olson, và Tòa Phúc thẩm Khu vực Tám đã giữ nguyên quyết định này.

[37] Susan Franck, The Liability of International Arbitrators: A Comparative Analysis and Proposal for Qualified Immunity, 20 NYL Sch. J. Int'l & Comp. L., 1, 17, 26 (2000).

[38] Romain Dupeye, Arbitrators on the Witness Stand! Comparative Approaches, Kluwer Arbitration Blog (03/10/2010), https://legalblogs.wolterskluwer.com/arbitration-blog/arbitrators-on-the-witness-stand-comparative-approaches

[39] Đào Trí Úc, Những vấn đề cơ bản của Luật Trọng tài, VIBONLINE, (24/11/2008), https://vibonline.com.vn/bao_cao/nhung-van-de-co-ban-cua-luat-trong-tai-gs-tskh-dao-tri-uc

[40] Hsu Locknie, The Adoption of the UNCITRAL Model Law on arbitration in Singapore. Singapore Journal of Legal Studies1, 387, 390 (1994) https://www.jstor.org/stable/24866712

[41] Điều 59 AA 2001: “Cơ quan bổ nhiệm, hoặc một tổ chức trọng tài hoặc tổ chức khác hoặc cá nhân được các bên chỉ định hoặc yêu cầu bổ nhiệm hoặc đề cử trọng tài viên, sẽ không chịu trách nhiệm về bất cứ điều gì đã làm hoặc bỏ sót trong quá trình thực hiện hoặc được cho là thực hiện chức năng đó, trừ khi hành vi hoặc sự bỏ sót đó được chứng minh là có ý đồ xấu.”

[42] Abdulla Z. Galadari, Sergejs Dilevka & Dimitriy Mednikov, AI Commentary: Singapore International Arbitration Act 1994, Galadari Legal Consultation (2024), https://galadarilaw.com/wp-content/uploads/2024/04/13-ia commentary-on-singapore-international-arbitration-act.pdf.

[43] Tan, Paul, Nelson Goh, Jonathan Lim (2023) A Commentary, Oxford University Press, tr.310 - 314, https://doi.org/10.1093/law/9780198828693.003.0017.

[44] Amendments to Singapore's Arbitration Regime: Heralding a Change in the Philosophy of Arbitration?, https://v1.lawgazette.com.sg/2001-12/Dec01-feature.htm, truy cập ngày 11/03/2026.

[45] Abdulla Z. Galadari, tlđd, 45.

[46] Aaron Tan Kai Ran, Joel Ko, Limits of Court Involvement in Decisions of Arbitral Institutions: The Singapore High Court in DMZ v DNA [2025] SGHC 31, KLUWER ARBITRATION BLOG, (08/05/2025),

https://legalblogs.wolterskluwer.com/arbitration-blog/limits-of-court-involvement-in-decisions-of-arbitral-institutions-the-singapore-high-court-in-dmz-v-dna-2025-sghc-31/

[47] Ví dụ có các tiêu chí như thực hiện một cách cố ý, có mong muốn xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp,...

[48] Hội Luật gia Việt Nam, Hồ sơ đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trọng tài thương mại, VIB ONLINE (27/03/2026), https://vibonline.com.vn/du_thao/ho-de-nghi-xay-dung-luat-sua-doi-bo-sung-mot-dieu-cua-luat-trong-tai-thuong-mai.

[49] Theo Điều 16 Luật mẫu, các bên chỉ có quyền yêu cầu trọng tài chịu trách nhiệm trong trường hợp trọng tài có hành vi cố ý làm sai (intentional wrongdoing). Mọi khiếu nại đối với trọng tài viên, cơ quan chỉ định và bất kỳ người nào được hội đồng trọng tài chỉ định dựa trên bất kỳ hành động hoặc thiếu sót nào liên quan đến trọng tài đều không được chấp nhận.

[50] Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Nhật Dương, Một số góp ý xây dựng quy định về trách nhiệm của Trọng tài viên khi sửa Luật Trọng tài thương mại, Tạp chí Điện tử Pháp lý (25/09/2024),

https://phaply.net.vn/gop-y-sua-luat-trong-tai-thuong-mai-mot-so-van-de-can-nghien-cuu-ky-khi-xay-dung-quy-dinh-ve-trach-nhiem-cua-trong-tai-vien-a258364.html.

[51] VIAC, Dự thảo Quy tắc tố tụng trọng tài VIAC – Phiên bản 2026, 27, (07/04/2026), https://www.viac.vn/images/News-and-Events/2026/News/260407_Du-thao-Quy-tac%202026/[VIAC%20Rules%202026]%20Final%20Draft%2001April%202026.pdf.

[52] Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 số 10/2017/QH14, ngày 20 tháng 06 năm 2017, Điểm a, khoản 1, Điều 7.

BÀI LIÊN QUAN